Ba tờ khai sinh trong một mái nhà
Trong nhà tôi có ba tờ giấy khai sinh thuộc về ba thế giới khác nhau. Tôi sinh năm 1988. Vợ tôi 1991. Con trai tôi 2022. Theo mấy cái bảng phân loại quen thuộc, vợ chồng tôi là Millennials, còn thằng nhỏ là Gen Alpha. Cùng một bàn ăn, cùng một thứ tiếng Việt giọng Sài Gòn buổi tối, vậy mà người ta bảo ba con người này được "lập trình" bằng ba bản khác nhau.
Cái ý đó, rằng thời điểm bạn lớn lên định hình cách bạn nhìn nhận cuộc đời, không sai. Nhưng cách người ta hay kể nó thì vừa nông vừa hơi giả trân. Họ dán cho mỗi thế hệ một tính cách gọn gàng, một câu chuyện tâm lý mượt mà, rồi gói lại bằng một câu an ủi kiểu "đừng phán xét, chỉ là khác nhau thôi". Tôi muốn kể lại câu chuyện đó cho đúng hơn. Vì cái thứ thật sự nặn nên một thế hệ phần lớn không phải là tâm lý mơ hồ, mà là những thứ rất vững chắc: nền kinh tế họ bước vào, cái giá nhà họ phải trả, lời hứa mà xã hội đưa ra rồi giữ hoặc nuốt lời. Và bộ não thì có dính vào thật, nhưng theo một cách cụ thể hơn nhiều so với chữ "lập trình".
Tại sao những năm tuổi trẻ hằn sâu nhất
Phải bắt đầu từ cái cơ chế, vì nếu không hiểu nó thì phần còn lại chỉ là kể lể. Ý tưởng có gốc gác đàng hoàng. Năm 1928, nhà xã hội học người Hungary Karl Mannheim viết một tiểu luận tên Das Problem der Generationen. Ông nói một điều mà tới giờ vẫn còn đúng: con người bị định hình mạnh nhất bởi môi trường xã hội và lịch sử của thời tuổi trẻ, cái giai đoạn mà ý thức còn mềm, còn đang đóng khuôn. Mannheim cẩn thận hơn mấy bài viết đời sau nhiều. Ông bảo sinh cùng năm không tự động làm người ta thành một thế hệ. Phải có một biến cố đủ lớn xảy ra đúng vào tuổi định hình đó, và quan trọng là xã hội phải đang thay đổi đủ nhanh để thế giới của tuổi hai mươi khác hẳn thế giới của chín, mười tuổi.
Một thế kỷ sau, khoa học thần kinh đo đạc được cái mà ông Mannheim ngày xưa chỉ cảm thấy thôi. Não người có những giai đoạn dẻo hơn hẳn, dễ bị môi trường nặn hơn hẳn, gọi là sensitive periods. Tuổi vị thành niên là một trong số đó. Đây là lúc não cắt tỉa bớt những kết nối thần kinh ít dùng và củng cố những kết nối dùng nhiều, một cuộc tu sửa lớn ở vùng vỏ não trước trán, nơi lo việc ra quyết định và dựng nên bản sắc. Cái thế giới bạn sống qua ở tuổi mười lăm, hai mươi vì thế không trôi đi như nước. Nó hằn lại dấu vết sinh học trong não bạn.
Còn một thứ nữa, đẹp hơn và dễ kiểm chứng, gọi là reminiscence bump. Khi người ta về già và nhớ về cuộc đời mình, ký ức không dàn đều. Có một cái bướu rõ rệt: những sự kiện xảy ra trong khoảng từ mười lăm tới hai mươi lăm tuổi được nhớ đậm nhất, sống động nhất, và cảm thấy quan trọng nhất. Bài hát hay nhất đời người ta thường là bài họ nghe năm mười tám tuổi. Đó là lý do mỗi thế hệ tin rằng thời của mình mới là thời thật, mọi thứ sau đó chỉ là phần phụ. Không phải vì thời đó hay hơn. Vì bộ nhớ con người được thiết kế để khắc đậm đúng quãng đó của họ.
Giữ ba thứ này trong đầu, giai đoạn nhạy cảm của não, cái bướu ký ức, và điều kiện "nhịp thay đổi đủ nhanh" của Mannheim, thì câu chuyện các thế hệ sẽ hiện ra rõ hơn. Và lần này nó được dựng trên nền kinh tế thật, không phải trên mấy tính từ.
Baby Boomers, những người được giữ lời hứa
Thế hệ sinh từ 1946 tới 1964 lớn lên trong một khoảnh khắc kinh tế mà có lẽ loài người chưa từng lặp lại. Ở Mỹ và Tây Âu, khoảng từ sau Thế chiến tới đầu thập niên 1970, có một sự ăn khớp gần như hoàn hảo: năng suất lao động tăng, và tiền lương của người lao động bình thường tăng theo gần bằng. Số liệu của Economic Policy Institute cho thấy trong ba thập kỷ hậu chiến, lương của đại đa số người làm tăng khoảng 91% trong khi năng suất tăng khoảng 97%. Hai đường đó đi song song. Người ta làm việc chăm chỉ, và phần thưởng chảy về túi họ thật.
Cái đó đẻ ra một thỏa thuận ngầm, và thỏa thuận đó được giữ lời. Trung thành với một công ty thì công ty lo cho tới lúc về hưu, bằng một thứ gọi là defined-benefit pension, lương hưu cố định trọn đời mà doanh nghiệp gánh. Mua một căn nhà không phải giấc mơ xa vời: vào giữa thập niên 1980, khi lớp Boomers tầm ba mươi tuổi, giá nhà trung vị chỉ khoảng ba lần rưỡi thu nhập một hộ gia đình. Nên những giá trị mà người ta hay gán cho thế hệ này, lòng trung thành, sự tôn trọng quy tắc, niềm tin vào các định chế, không phải là sự cổ hủ. Đó là phản ứng hợp lý của những người sống trong một thế giới mà hệ thống thật sự vận hành. Bạn tin vào cái thang vì cái thang đó đỡ được bạn.
Đó cũng là lý do một khi chuyển sang tuổi già lại nặng nề với họ tới vậy. Khi cả bản sắc được xây quanh công việc và sự hữu dụng, lúc nghỉ hưu hay lúc cả một ngành công nghiệp dời ra nước ngoài, người ta không chỉ mất việc, mà mất luôn câu trả lời cho câu hỏi mình là ai. Cái neo của họ là sự ổn định, và thế giới thì hết ổn định.
Một điều cần nói thẳng cho công bằng. Hôm nay lớp Boomers nắm khoảng một nửa tổng tài sản hộ gia đình ở Mỹ, gấp nhiều lần các thế hệ sau cộng lại. Phần lớn không phải do tài giỏi hơn. Họ mua tài sản, nhất là nhà, vào lúc nó còn rẻ, rồi ngồi yên trong khi lãi suất giảm dần suốt mấy chục năm thổi giá mọi thứ họ đang nắm lên cao. Đó là chuyện của thời điểm sinh ra, đúng như Mannheim nói, chỉ có điều dấu ấn ở đây không nằm trong tính cách mà nằm trong bảng cân đối tài sản.
Gen X, lớp người chứng kiến lời hứa bắt đầu rạn nứt
Thế hệ sinh từ 1965 tới 1980 bước vào đời đúng lúc cái thỏa thuận kia bắt đầu rạn nứt. Khoảng đầu thập niên 1970, hai đường năng suất và lương tách nhau ra, cái mà các nhà kinh tế gọi là the great decoupling. Từ 1973 tới 2013, lương của một người lao động điển hình ở Mỹ chỉ nhích lên chừng 9%, trong khi năng suất tăng tới 74%. Của cải vẫn được tạo ra, nhiều hơn bao giờ hết, nhưng nó thôi chảy về phía người làm công bình thường. Mức độ chính xác của con số này tới giờ các nhà kinh tế vẫn còn cãi nhau, nhưng cái khoảng cách thì không ai chối được. Và gen X lớn lên trong cái bóng của sự rạn đó. Họ thấy cha mẹ bị sa thải khi các nhà máy đóng cửa. Tỷ lệ ly hôn ở Mỹ leo lên đỉnh điểm vào khoảng năm 1980, đúng thời thơ ấu của họ, đẻ ra cả một thế hệ "latchkey kids", những đứa trẻ tự đeo chìa khóa nhà, tự về, tự lo, vì cả cha lẫn mẹ đều đi làm hoặc đã ly tán. Thông điệp mà họ rút ra từ rất sớm rất đơn giản: đừng trông chờ ai tới cứu mình.
Nên cái mà người ta gọi là sự hoài nghi, sự độc lập, lớp áo giáp cảm xúc của Gen X, không phải một lựa chọn thời thượng. Đó là thứ mọc ra từ việc lớn lên cạnh những định chế đang lung lay ngay trước mắt. Boomers tin vào hệ thống vì hệ thống đỡ được họ. Gen X học cách không tin, vì họ chứng kiến hệ thống bắt đầu bỏ rơi người. Họ là lớp đệm giữa một thế giới mà lời hứa được giữ và một thế giới mà lời hứa thành mây khói, và họ học cách sống mà không cần lời hứa nào cả.
Millennials, thế hệ được dạy mơ mộng rồi bị tính tiền
Đây là thế hệ của tôi và vợ tôi, nên tôi nói có phần từ bên trong mình, nhưng tôi sẽ cố nói bằng con số.
Lớp sinh từ 1981 tới 1996 lớn lên trong thập niên 1990 lạc quan, được dạy một câu kinh điển: cứ học giỏi, cứ vào đại học, rồi cái thỏa thuận cũ ổn định sẽ chờ sẵn. Rồi họ tốt nghiệp và bước thẳng vào hai cú sốc, bong bóng dot-com đầu những năm 2000 và nhất là khủng hoảng tài chính 2008, giáng đúng lúc lớp Millennials lớn tuổi nhất vừa ra trường. Người ta thích gọi cảm giác đó bằng những cái tên kêu như "chấn thương kỳ vọng". Tôi không tin vào mấy cái nhãn tâm lý đó lắm. Cái thật ở đây là một khoảng cách kinh tế đo được, không phải một vết thương tinh thần bí ẩn.
Khoảng cách đó nằm ở chỗ này. Lương của người làm công bình thường đã tách khỏi năng suất từ thời Gen X, và tới lượt Millennials thì ba thứ quan trọng nhất của một đời người, nhà ở, học hành, y tế, lại tăng giá nhanh hơn lương rất nhiều. Và vì tôi không đủ số liệu ở Việt Nam, nên tôi luôn dẫn chứng bằng các số liệu ở Mỹ, nó minh bạch, chính xác và đầy đủ hơn. Giá nhà ở Mỹ tăng hơn 400% kể từ năm 1990, trong khi thu nhập trung vị tăng chưa tới 200%. Tỷ lệ giá nhà trên thu nhập năm 2025 vào khoảng 5,5 lần, thuộc hàng cao nhất kể từ năm 1900, trong khi mức được coi là "lành mạnh" chỉ là 2,6. Khi Boomers ba mươi tuổi, một căn nhà đáng giá ba lần rưỡi thu nhập. Khi Millennials ba mươi tuổi, cũng căn nhà đó đắt gần gấp đôi so với thu nhập của họ, tất nhiên ở Việt Nam thì còn cao hơn mấy lần. Thêm vào đó là núi nợ học phí, riêng ở Mỹ tổng cộng đã vượt 1.700 tỷ đô, và cái lương hưu cố định trọn đời của thời Boomers thì biến mất, thay bằng 401(k), tức là tự bỏ tiền túi ra mà lo lấy thân.
Khi nhìn vào đó, những cái mà người ta hay chê ở Millennials hiện ra dưới một ánh sáng khác của sự thật. Lập gia đình muộn, mua nhà muộn, sinh con muộn, sống với cha mẹ lâu hơn, năm 2025 cứ ba người trẻ ở Mỹ thì khoảng một người vẫn ở chung với cha mẹ dù đã đi làm. Đó không phải dấu hiệu của một thế hệ yếu đuối hay lười nhác. Đó là số học. Millennials sở hữu chưa tới hai phần ba lượng bất động sản mà Boomers từng sở hữu ở cùng độ tuổi, và nắm khoảng 10% tổng tài sản trong khi Boomers nắm tới phân nửa. Tuổi mua nhà lần đầu ở Mỹ năm 2025 lập kỷ lục ở mức bốn mươi. Cái "kiệt sức" mà thế hệ này hay than vãn không phải một khuyết tật tính cách. Nó là cảm giác của người leo một con dốc dựng đứng hơn hẳn con dốc mà cha mẹ họ từng leo.
Nhưng tôi muốn giữ cho mình sự trung thực, vì câu chuyện không phải một màu bi kịch. Millennials học hành cao hơn các thế hệ trước, và lương thực tế của họ, tính theo sức mua, không hề thấp hơn bao nhiêu. Sau đợt tài sản tăng giá mạnh giai đoạn 2020 tới 2024, vài bộ dữ liệu cho thấy tài sản ròng trung vị của Millennials ở tuổi cuối ba mươi thậm chí đã nhỉnh hơn Boomers ở cùng tuổi. Và các thế hệ trước cũng có bức tường nhà ở của riêng họ, thời Boomers vay tiền khó, đặt cọc lớn, lãi suất thập niên 1980 có lúc cao tới mức kinh hoàng. Sự thật cân bằng là thế này: Millennials không nghèo hơn về thu nhập, nhưng con đường đi tới sự ổn định trở nên dốc hơn, dài hơn, và bấp bênh hơn. Họ được hứa một cái thang và nhận về một cái máy chạy bộ.
Và đây là chỗ tôi phải nói về chính mình, vì nó cho thấy mấy cái nhãn này mong manh tới đâu. Toàn bộ kịch bản "Millennials vỡ mộng vì 2008" là một kịch bản Mỹ. Năm 2008 tôi hai mươi tuổi, ở Sài Gòn. Cái thị trường việc làm sụp đổ kia, tôi đọc nó như đọc tin một trận bão ở bán cầu bên kia. Việt Nam thời đó vừa vào WTO đầu năm 2007, internet đang bò vào từng nhà, cả nước đang đi từ xe máy lên xe hơi trong một niềm tin rằng ngày mai khá hơn hôm nay. Tôi mang cùng một năm sinh với một anh chàng ở Ohio vừa thất nghiệp, cùng được dán nhãn "Millennial", nhưng thời tiết kinh tế nặn ra hai đứa tôi gần như trái ngược. Cái nhãn nói chúng tôi cùng một bộ tộc. Nhưng bản chất của đời thì nói khác.
Gen Z, lớn lên bên trong cái màn hình
Thế hệ sinh từ 1997 tới 2012 là lớp đầu tiên không phát hiện ra internet mà lớn lên bên trong nó. Họ thừa hưởng cái bóng dài của khủng hoảng 2008 mà cha mẹ còn đang gồng, rồi gặp đại dịch COVID đúng vào tuổi định hình, rồi mỗi ngày mở điện thoại ra là biến đổi khí hậu, chiến tranh, bất bình đẳng đập vào mặt. Các chỉ số về lo âu, trầm cảm ở thanh thiếu niên nhiều nước tăng lên trong cùng giai đoạn. Tới đây thì tôi lại nhớ mình đã từng đọc rất nhiều các tuyên bố chắc nịch rằng não Gen Z "kiệt sức kỹ thuật số", "không ngừng xử lý trọng lượng của cả thế giới". Sự tự tin đó là chỗ tôi phải dừng lại, vì khoa học thật thì đang đánh nhau dữ dội ngay tại điểm mấu chốt này. Năm 2024, nhà tâm lý học Jonathan Haidt ra cuốn The Anxious Generation, bán chạy khủng khiếp. Luận điểm của ông mạnh và rõ: trong khoảng 2010 tới 2015 đã có một cuộc "great rewiring", tuổi thơ dựa trên chơi đùa bị thay bằng tuổi thơ dựa trên điện thoại, và chính cú đó gây ra đại dịch trầm cảm ở Gen Z. Nhưng tháng 3 năm 2024, giáo sư tâm lý Candice Odgers viết một bài phản biện trên tạp chí Nature, một trong những tờ uy tín nhất ngành. Câu của bà sắc như dao: không có bằng chứng nào cho thấy các nền tảng này đang "rewire" não trẻ hay gây ra một đại dịch bệnh tâm thần, và phần lớn nghiên cứu chỉ cho thấy tương quan chứ không phải nhân quả. Tệ hơn, rất có thể chiều nhân quả chạy ngược: đứa trẻ vốn đã buồn mới là đứa vùi mình vào mạng nhiều hơn. Haidt phản pháo rằng ông còn có nghiên cứu thực nghiệm và rằng hiện tượng này xảy ra cùng lúc ở nhiều nước. Cuộc cãi tới giờ vẫn chưa ngã ngũ.
Tôi kể chuyện này không phải để chọn phe, mà để cho thấy một sự khiêm tốn cần thiết. Ngay cả câu hỏi cụ thể nhất, bức thiết nhất trong toàn bộ chủ đề, "cái điện thoại có lập trình lại lũ trẻ không", với hàng ngàn nhà khoa học và dữ liệu thật trong tay, vẫn chưa có câu trả lời chắc chắn. Vậy mà mấy bài content, mấy video clip ngắn 3 xu lại dám chốt hạ chỉ trong một câu. Cái khác nhau giữa hai bên là một bên đang đi tìm sự thật, một bên đang bán một cảm giác.
Có một dữ kiện tôi thích, vì nó đập thẳng vào định kiến cổ xưa rằng đời sau ngày càng dốt đi. Suốt gần trọn thế kỷ 20, điểm IQ trung bình ở các nước phát triển tăng đều, khoảng ba điểm mỗi thập kỷ, hiện tượng mang tên hiệu ứng Flynn theo nhà nghiên cứu James Flynn. Mỗi đời con cháu làm bài test tốt hơn ông bà, một cách đo được. Cái định kiến "tụi nó càng ngày càng tệ" đã sai suốt một thế kỷ. Rồi từ khoảng thập niên 1990, ở vài nước như Na Uy, Đan Mạch, Phần Lan, xu hướng đó chững lại và đảo chiều. Điều đáng lưu ý nhất nằm trong dữ liệu Na Uy: cú tụt bắt đầu từ những người sinh sau khoảng năm 1975, do môi trường chứ không do gen. Sinh sau 1975, tức là khởi động từ rất lâu trước khi chiếc smartphone đầu tiên ra đời. Cái thủ phạm tiện tay mà ai cũng muốn kết tội lại không khớp với mốc thời gian. Bài học ở đây là mỗi khi có một dịch chuyển lớn giữa các thế hệ, gốc rễ của nó thường sâu và cũ hơn nhiều so với con quỷ gần nhất mà ta vồ lấy.
Gen Alpha, và đứa con đang ngồi cạnh tôi
Thế hệ của con trai tôi, sinh từ khoảng 2013 trở đi, là vùng đất chưa ai đặt chân tới. Người ta nói chúng lớn lên với trí tuệ nhân tạo, với màn hình từ trong nôi, với khả năng tập trung ngắn và quyền tùy chỉnh mọi thứ. Cần nói cho rõ: gần như toàn bộ những điều này là phỏng đoán. Ngay cả cái tên "Alpha" cũng do một nhà nghiên cứu thị trường người Úc tên Mark McCrindle đặt ra, không phải một phát hiện khoa học. Một thế hệ chưa lớn xong thì chưa thể có chân dung, chỉ có những lời tiên tri của người lớn về nó.
Và đây là chỗ cái nhãn lộ ra rõ nhất sự vô duyên của nó. Khi mấy hãng marketing hình dung một đứa trẻ "Gen Alpha", họ hình dung một đứa bé phương Tây, online từ lúc lọt lòng, cha mẹ đã đăng đầy ảnh nó lên mạng. Con trai tôi lớn lên ở Sài Gòn, nghe mấy bà nói tiếng Việt giọng Nam và mấy bác bên mẹ nói giọng Bắc, ăn cơm nhà, và sẽ đi học trong một hệ thống chẳng giống chút nào cái khung mà chữ "Alpha" được nghĩ ra để mô tả. Cái thật sự nặn nên thằng nhỏ sẽ không phải một con AI nào đó mà mấy bài viết đang dọa. Nó sẽ là bữa cơm trong nhà này, là cách vợ chồng tôi cãi nhau rồi làm lành trước mặt nó, là cái thành phố ngoài kia, là nền kinh tế Việt Nam của hai mươi năm tới mà ngay cả tôi cũng chưa hình dung nổi. Cái duy nhất tôi biết chắc về tương lai của nó lại đúng là cái mà tấm bảng phân loại kia giả vờ đã biết.
Trở lại bàn ăn
Ba tờ khai sinh trong một mái nhà, ba cái nhãn được cho là ba bản lập trình khác nhau. Sau khi đi hết một vòng, tôi nghĩ phần lõi của câu chuyện là đúng, nhưng người ta hay kể sai chỗ quan trọng nhất. Thời đại có để lại dấu ấn thật, và dấu ấn đó hằn sâu nhất vào những năm một người mở lòng nhất với thế giới, đúng như bộ não cho thấy. Nhưng nó không tới dưới dạng một tính cách được phát theo năm sinh. Nó tới dưới dạng một nền kinh tế cụ thể, một đất nước cụ thể, một gia đình cụ thể được trao vào tay một con người. Boomers được giữ lời hứa nên họ tin. Gen X thấy lời hứa rạn nên họ thủ thế. Millennials bị tính tiền cho một giấc mơ được bán rẻ. Gen Z lớn lên trong một cái màn hình mà chính khoa học còn chưa hiểu hết. Và Alpha thì còn chưa bắt đầu.
Khi tôi nhìn thằng con ba tuổi đang nghịch cơm trên bàn, tôi biết tôi đọc được cái thời tiết mà nó đang lớn lên trong đó. Nhưng tôi không đọc được nó sẽ thành người thế nào giữa cái thời tiết ấy. Cái năm 2022 in trên giấy khai sinh không nói cho tôi biết điều đó. Không ai nói cho tôi biết được. Và có lẽ đó là điều an ủi nhất trong toàn bộ câu chuyện này.
