Cánh cửa hẹp nhất - Việt Nam và cái bẫy thu nhập trung bình
Ngày 1 tháng 7 năm 2026, đất nước Việt Nam của chúng ta thức dậy với một cái nhãn mới. World Bank công bố bảng xếp loại thu nhập thường niên, và lần đầu tiên sau gần bốn mươi năm kể từ thời kỳ Đổi Mới, Việt Nam được xếp vào nhóm thu nhập trung bình cao, ngồi chung mâm với Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc. Thu nhập quốc dân bình quân đầu người tính theo phương pháp Atlas đạt 4.970 đô la Mỹ, nhích qua cái ngưỡng 4.636 đô mà tổ chức này vạch ra cho năm nay. Báo chí trong nước gọi đó là cột mốc lịch sử. Nó là lịch sử thật, không nói quá đâu.
Nhưng có một chi tiết nhỏ mà chính World Bank cũng không ngần ngại nói thẳng ra: yếu tố quyết định thúc đẩy Việt Nam qua ngưỡng năm nay không hẳn là kinh tế bứt phá, mà là số liệu dân số được cập nhật lại. Mẫu số nhỏ đi thì thương số lớn lên. Thu nhập quốc dân của cả nước chia cho một con số dân số được điều chỉnh, và phép chia đó đã đưa Việt Nam lên hạng nhanh hơn một chút so với thực lực kinh tế đơn thuần. Chuyện này không làm cái nhãn kém giá trị đi. Nhưng nó nhắc một điều tôi nghĩ cần nói ngay từ đầu: cái nhãn đổi, còn cái xưởng thì chưa.
Tôi viết bài này không phải để chê con số, cũng không phải để tô hồng nó. Tôi viết vì tôi nghĩ chúng ta đang đứng ở đúng chỗ thú vị nhất và cũng khó nhất trong cả hành trình phát triển của đất nước, và phần lớn những gì được nói về nó lại xoay quanh cái phần dễ thấy nhất là con số GDP đầu người, trong khi cái phần quyết định chính lại nằm ở chỗ khác. Luận điểm của tôi gói gọn gàng trong một câu: lên nhóm trung bình cao không phải vạch đích, nó là cửa vào đoạn đường khó nhất, và thứ quyết định Việt Nam có đi hết đoạn đường đó hay là không không nằm ở tốc độ tăng trưởng, mà ở năng suất, thể chế và niềm tin, tức là những thứ đắt tiền và chậm chạp mà không có bất kì một khẩu hiệu nào rút ngắn được.
Cái nhãn vừa đổi, và ba con số lại kể về ba câu chuyện khác nhau
Trước khi bàn tới cái bẫy, chúng ta phải hiểu cho đúng con số, vì con số này bị hiểu sai nhiều hơn bất cứ chỉ tiêu kinh tế nào khác. Có ít nhất ba con số đang cùng lúc được gọi là "thu nhập đầu người của Việt Nam", và chúng thực sự khác nhau. Theo Tổng cục Thống kê, GDP bình quân đầu người năm 2025 đạt khoảng 5.026 đô la, tương ứng với quy mô nền kinh tế hơn 510 tỷ đô và tốc độ tăng trưởng 8,02%, một trong những mức cao nhất thế giới năm vừa rồi. Nhưng theo tính toán của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, cũng chỉ tiêu GDP đầu người ấy chỉ vào khoảng 4.740 đô, xếp thứ sáu Đông Nam Á. Chênh nhau gần ba trăm đô tùy vào ai đang cầm máy tính và dùng tỷ giá nào. Còn con số thứ ba, cái mà World Bank thật sự dùng để xếp hạng, là GNI, tức thu nhập quốc dân, đạt 4.970 đô năm 2025 so với 4.490 đô năm 2024.
Vì sao ba con số này quan trọng, và vì sao tôi bắt người đọc chịu khó phân biệt. GDP đo những cái làm ra trong biên giới, kể cả phần do doanh nghiệp nước ngoài làm ra rồi mang lợi nhuận về nước của họ. GNI đo cái thật sự thuộc về người dân và doanh nghiệp trong nước, cộng trừ dòng thu nhập ra vào. Với một nền kinh tế mà xuất khẩu và tăng trưởng dựa rất nhiều vào khối FDI như Việt Nam, khoảng cách giữa hai con số này không phải câu chuyện học thuật. Samsung xuất khẩu điện thoại từ Bắc Ninh ra toàn cầy làm cho con số GDP đẹp hơn, nhưng phần lớn giá trị và lợi nhuận không ở lại trong túi người Việt. Đó là lý do World Bank chọn GNI, và đó cũng là lý do một quốc gia có thể có GDP đầu người ấn tượng mà vẫn nghèo hơn cái nhãn nói.
Con số thứ tư còn quan trọng hơn nữa với đời sống thật của chúng ta, đó là thu nhập tính theo sức mua tương đương. Một đô ở Sài Gòn mua được nhiều hơn một đô ở Tokyo. Tính theo sức mua, người Việt khá hơn cái con số danh nghĩa gợi ý. Nhưng sức mua không hề giúp ta mua được máy móc nhập khẩu, không mua được con chip, không trả được lương kỹ sư ở mặt bằng quốc tế. Cho nên với chuyện thoát bẫy, con số danh nghĩa mới là con số phải leo lên.
Cái tôi muốn người đọc giữ lại từ đoạn này là một thái độ chứ không phải một con số. Khi ai đó nói Việt Nam đã đạt hơn năm nghìn đô một người, hãy hỏi lại: đô nào, đo cái gì, thuộc về ai. Bởi vì phía sau con số bình quân là một sự thật mà phép chia trung bình luôn giấu đi, rằng thu nhập ở Việt Nam phân bố rất không đều, giữa thành thị và nông thôn, giữa khu vực chính thức và phi chính thức, giữa người bám được vào chuỗi FDI và người đứng ngoài cuộc. Một con số trung bình nhảy qua ngưỡng trên giấy tờ không qui đổi ra được bất cứ một đồng bạc nào trong bóp của người thợ ở Bình Dương hay bà bán tạp hóa ở Cần Thơ. Cái nhãn nói cả nước đã lên trung bình cao. Nhưng đời sống thực sự thì chưa nhận được kết quả như cái thông báo đó.
Vậy nên tôi coi mốc 1 tháng 7 là một cái mốc đẹp nhưng dễ gây ngộ nhận. Đẹp vì nó đúng thật, vì bốn mươi năm đi từ một trong những nước nghèo nhất hành tinh lên đây là kỳ tích không một quốc gia nào nên xem thường. Dễ ngộ nhận vì nó khiến người ta tưởng phần khó đã qua. Sự thật ngược lại. Đoạn dễ nhất của sự phát triển vừa mới kết thúc.
Bẫy thu nhập trung bình thật ra là cái gì
Cụm từ "bẫy thu nhập trung bình" được nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas của World Bank đưa vào năm 2007, và từ đó nó thành một trong những khái niệm bị lạm dụng nhiều nhất trong diễn ngôn phát triển. Người ta nói về nó như nói về thời tiết, như một thứ định mệnh mơ hồ. Nhưng cơ chế đằng sau nó rất cụ thể, và phải hiểu đúng cơ chế mới thấy được vì sao Việt Nam đang đứng ở chỗ nguy hiểm.
Hình dung một nền kinh tế của một nước nghèo bắt đầu công nghiệp hóa. Nó có một thứ vũ khí vô cùng tuyệt vời và sẵn có, đó là lao động giá rẻ. Nông dân rời ruộng nương vào nhà máy, làm những công đoạn đơn giản, lắp ráp, may mặc, gia công cho nước ngoài. Vốn nước ngoài đổ vào ào ạt vì nhân công rẻ lại dồi dào. Xuất khẩu tăng, thu nhập tăng, cả nước đi lên. Đây là đoạn dễ, và Việt Nam đã làm đoạn này rất xuất sắc trong ba mươi năm, tôi không biết được là hơn xuất sắc còn từ ngữ nào để mô tả. Các nhà kinh tế thì gọi thời điểm chuyển pha là điểm ngoặt Lewis, khi lao động giá rẻ dư thừa cạn dần, lương bổng bắt đầu tăng lên. Lương tăng là chuyện tốt cho người lao động, nhưng nó rút đi mất chính cái vũ khí đã đưa quốc gia tới mức phát triển này.
Và đây lại là cái bẫy, mô tả gọn nhất bằng một câu mà giới nghiên cứu kinh tế hay dùng: quá giàu để làm hàng rẻ nhưng lại quá nghèo để làm hàng đỉnh. Lương ở Việt Nam giờ đã cao hơn Bangladesh, Campuchia, một phần châu Phi, nên những đơn hàng gia công rẻ nhất bắt đầu rời đi tìm chỗ khác rẻ hơn. Nhưng trình độ công nghệ, năng lực thiết kế, thương hiệu của doanh nghiệp Việt lại chưa đủ để cạnh tranh với Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật ở phân khúc cao. Chúng ta đang kẹt cứng ở giữa. Không xuống được, chưa lên được. Tăng trưởng chậm lại, và nếu chậm đủ lâu, quốc gia sẽ mắc kẹt ở mức thu nhập trung bình hàng chục năm, có khi vĩnh viễn.
Con số làm chuyện này thành đáng sợ chứ không phải lý thuyết suông. Theo tính toán của The Economist dựa trên dữ liệu World Bank, trong giai đoạn từ 1960 đến 2022, chỉ khoảng hai mươi ba nền kinh tế trên toàn thế giới thật sự thoát khỏi nhóm trung bình để lên thu nhập cao. Hai mươi ba, trong hơn nửa thế kỷ, trên gần hai trăm quốc gia, tức là tỉ lệ chỉ vào khoảng 1/10. Nổi bật nhất là bốn con hổ châu Á: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông. Ngoài ra lác đác có Ba Lan, Ả Rập Xê Út, vài nước nữa. Còn lại, đại đa số, hoặc vẫn đang leo, hoặc đã dừng lại. Thoát bẫy là ngoại lệ, là phép màu, không phải quy luật. Mắc bẫy mới là mặc định.
Việt Nam đang ở đâu trong bức tranh đó. Một dữ kiện của RMIT khiến tôi suy nghĩ nhiều: thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam từng bằng 76% của Trung Quốc vào năm 1989, đến năm 2023 chỉ còn 31%. So với các nước phát triển thì khoảng cách còn xa hơn, thu nhập đầu người Việt Nam năm 2023 chỉ bằng khoảng 11% của Hàn Quốc, 10% của Nhật, 6% của Singapore, gần như không nhúc nhích so với đầu thập niên 1990. Chúng ta chạy rất nhanh. Nhưng chúng ta chạy nhanh trong khi những người đi trước còn chạy nhanh hơn, và khoảng cách tương đối với người dẫn đầu có khi còn giãn ra. Đây không phải để bi quan. Đây là cách hình dung để chúng ta nên tỉnh táo. Tăng trưởng cao mỗi năm là cần thiết, nhưng bản thân nó không đủ để rút ngắn khoảng cách, nếu chất lượng tăng trưởng không đổi.
Có một biến thể của cái bẫy mà tôi thấy mô tả đúng về Việt Nam nhất, giới nghiên cứu gần đây gọi là bẫy công nghệ trung bình. Không phải thiếu công nghiệp, mà kẹt ở tầng công nghệ giữa. Làm được điện thoại nhưng là lắp ráp cho hãng ngoại. Làm được ô tô nhưng phần lõi vẫn nhập. Có nhà máy hiện đại nhưng nhà máy đó thuộc về người khác, và khi họ dời đi thì năng lực, công nghệ không ở lại. Việt Nam có sản lượng công nghiệp ấn tượng, tỷ lệ xuất khẩu trên GDP thuộc hàng cao nhất thế giới, nhưng phần lớn giá trị gia tăng cao vẫn nằm ngoài tầm với của doanh nghiệp nội địa. Đó chính là bức tường mà Việt Nam đang tiến tới. Và điều an ủi duy nhất, cũng là điều đáng để học hỏi nhất, đó là đã có người từng trèo qua bức tường này rồi.
Bài học từ những người bạn hàng xóm: rồng, hổ, và những người bạn đã dừng chân
Nếu chỉ được đọc một chương trong cả câu chuyện phát triển châu Á, tôi khuyên đọc chương so sánh Hàn Quốc, Đài Loan với Malaysia, Thái Lan. Bốn nước, cùng xuất phát điểm gần bằng nhau vào thập niên 1960, cùng đi con đường công nghiệp hóa hướng xuất khẩu, cùng bắt đầu bằng việc đi gia công cho các tập đoàn nước ngoài. Rồi hai nước hóa rồng, hai nước đã dừng lại. Sự khác biệt ấy chính là bản đồ đường đi mà Việt Nam đang cần.
Hàn Quốc và Đài Loan đã làm được một chuyện mà giới nghiên cứu gọi là hai lớp nâng cấp cùng lúc. Lớp thứ nhất là nâng cấp bên trong một ngành, từ làm công đoạn rẻ tiền lên làm công đoạn có giá trị cao hơn của cùng ngành đó. Lớp thứ hai là liên tục nhảy vào những ngành nghề mới hứa hẹn hơn khi ngành cũ đã bão hòa. Thiếu một trong hai, cơ hội đuổi kịp các nước giàu rất mỏng manh. Có một câu chuyện tôi khá là thích, về hãng Acer của Đài Loan. Thời đầu, các hãng Đài Loan sống bằng làm gia công theo đơn đặt hàng, tức là sản xuất theo thiết kế của người ta, dán nhãn của người ta. Khi khủng hoảng ập tới và khách hàng nước ngoài chuyển đơn sang những nước lương thấp hơn như Malaysia, các hãng Đài Loan bắt đầu hiểu ra một điều sống còn: muốn giữ khách, phải tự thiết kế được sản phẩm, và phải bán được sản phẩm dưới thương hiệu của chính mình. Bước từ làm thuê thiết kế sang làm chủ một thương hiệu là bước đi khó nhất, và đắt nhất, trong cả hành trình. Hàn Quốc đi con đường tương tự với Samsung, Hyundai, LG, khởi đầu bằng bắt chước và mua license công nghệ, rồi từng bước làm chủ, rồi vượt lên dẫn đầu trong màn hình, chip nhớ, đóng tàu...
Cái giá của con đường đó là gì. Là kỷ luật xuất khẩu tàn nhẫn, doanh nghiệp được nhà nước hỗ trợ nhưng phải cạnh tranh được trên thị trường thế giới nếu không thì mất hỗ trợ, không có chuyện được bao bọc mãi trong sân nhà. Là đầu tư khổng lồ và bền bỉ vào giáo dục, đặc biệt là kỹ thuật và khoa học. Là chấp nhận những cải cách đau đớn về thể chế và quản trị. Hàn Quốc mất khoảng mười lăm năm để đi từ trung bình cao lên thu nhập cao sau khi chạm ngưỡng trung bình cao năm 1978. Đài Loan cũng chừng mười lăm năm sau mốc 1973. Mười lăm năm dồn sức, không đứt quãng. Đó là cái khung thời gian thực tế mà Việt Nam nên hình dung khi đặt mục tiêu 2045.
Giờ nhìn sang phía bên kia của tấm gương. Malaysia là ca đáng để học nhất, vì Malaysia không hẳn là thất bại, họ chỉ dừng lại. Nước này xây dựng được một ngành điện tử đủ lớn, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, có lúc tưởng như sắp chạm thu nhập cao. Nhưng phần lớn ngành điện tử ấy thuộc sở hữu của các tập đoàn đa quốc gia, năng lực đổi mới nội địa mỏng. Một con số minh họa rất rõ: GDP đầu người của Malaysia chỉ tăng từ 9.069 đô năm 2010 lên 9.766 đô năm 2015, nhích được vỏn vẹn bảy trăm đô trong năm năm, trong khi cùng kỳ Trung Quốc tăng gần gấp đôi. Malaysia đụng phải cái mà giới nghiên cứu gọi là bức tường lên thu nhập cao, và đứng yên đó cả thập kỷ. Có hai nguyên nhân đáng để Việt Nam soi vào. Một là chảy máu chất xám, khi nhân tài và vốn của cộng đồng doanh nhân năng động rời đi vì chính sách phân biệt và môi trường thiếu cởi mở. Hai là sức ì của những nhóm lợi ích đã giàu lên nhờ nguyên trạng và không muốn thay đổi cái nguyên trạng đó. Cả hai đều là bệnh thể chế, không phải bệnh kinh tế.
Thái Lan lại là một biến thể khác. Nước này có ngành lắp ráp ô tô lớn, được gọi là Detroit của châu Á, nhưng phần nâng cấp nội địa hạn chế, phần lõi công nghệ vẫn nằm ở các hãng của Nhật. Cộng thêm bất ổn chính trị triền miên và dân số già đi nhanh, tăng trưởng của Thái Lan tụt từ mức 7-8% thời hoàng kim xuống còn quanh 2% trong những năm gần đây. Philippines thì dựa nhiều vào kiều hối và xuất khẩu dịch vụ. Indonesia vẫn nặng về tài nguyên. Mỗi nước một kiểu mắc kẹt, nhưng nếu rút ra một mẫu số chung thì nó nằm ở đây: các nước dừng lại đều thiếu một tầng doanh nghiệp nội địa có năng lực đổi mới thật sự và cạnh tranh được toàn cầu, và đều có thể chế không đủ tốt để buộc nền kinh tế nâng cấp khi lợi thế cũ đã cạn kiệt. Còn các nước thoát bẫy thì làm được cả hai chuyện đó.
Tôi kể chuyện hàng xóm không phải để chúng ta thấy sợ hãi hay thua kém. Ngược lại. Bài học lớn nhất từ Hàn Quốc và Đài Loan là thoát bẫy có thật, và nó thường xảy ra trong một khoảng thời gian tương đối ngắn khi các điều kiện hội đủ, chứ không phải bò từ từ. Cửa ra vẫn rộng mở cho Việt Nam. Nhưng muốn bước qua cánh cửa đó đòi hỏi chúng ta phải làm được những việc mà Malaysia và Thái Lan không làm nổi, và đó là chỗ tôi muốn nói tới cái khó khăn thật sự.
Nút thắt năng suất, con người, và cái đồng hồ dân số
Nếu phải chỉ ra một chỗ mà cả cuộc chơi được quyết định, tôi chọn năng suất lao động. Không phải tăng trưởng, không phải xuất khẩu, không phải FDI. Năng suất, tức là mỗi giờ lao động, mỗi đồng vốn tạo ra được bao nhiêu giá trị. Bởi vì ở đoạn đầu của phát triển, một quốc gia có thể tăng trưởng bằng cách đơn giản là đổ thêm vốn và thêm người vào, xây thêm nhà máy, đưa thêm nông dân vào công xưởng. Nhưng khi tới điểm ngoặt Lewis, cách đó hết tác dụng. Từ đây trở đi, muốn giàu tiếp thì phải làm ra nhiều hơn từ cùng một lượng vốn và người, tức là phải tăng năng suất. Và tăng năng suất thì gần như luôn phải dựa vào công nghệ, tri thức, kỹ năng, đổi mới. Và đây lại là chỗ Việt Nam yếu nhất, và cũng là chỗ đáng lo nhất.
Con số nói thẳng ra vấn đề. Năm 2021, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển của Việt Nam chỉ khoảng 0,42% GDP. Cùng chỉ tiêu đó, Hàn Quốc chi 4,91%, Mỹ 3,48%, Nhật 3,28%. Chênh nhau khoảng mười lần. Không có bát cứ quốc gia nào trong lịch sử leo lên thu nhập cao mà lại chi cho R&D ở mức đó. Đầu tư cho tri thức là thứ phân biệt được quốc gia trèo nổi qua bức tường với quốc gia đứng dưới tường nhìn lên, và ở chỉ tiêu này Việt Nam của chúng ta đang xuất phát từ rất thấp. Tin tốt là thấp thì còn nhiều dư địa để tăng, và tăng nhanh. Tin cần tỉnh táo là tăng chi tiêu R&D không tự động tạo ra kết quả, tiền phải chảy đúng chỗ, vào doanh nghiệp thật sự đổi mới chứ không vào "đề tài" để cất ngăn kéo.
Cạnh năng suất là yếu tố con người. Số năm đi học trung bình của người Việt đã tăng, đó là thành tựu thật. Nhưng kỹ năng thực hành lại chưa theo kịp nhu cầu của một nền kinh tế đang muốn số hóa và lên công nghệ cao. Có một nghịch lý về phân bổ nhân tài mà tôi thấy rất Việt Nam: nhiều người giỏi chọn công việc an toàn trong khu vực công thay vì lao vào nghiên cứu khoa học hay khởi nghiệp công nghệ, đơn giản vì con đường mạo hiểm không được tưởng thưởng đủ và không được nâng đỡ đủ tốt. Một quốc gia muốn đổi mới mà lại để những bộ óc tốt nhất tìm chỗ trú ẩn an toàn thì đâu khác gì tự trói tay mình. Đây không phải lỗi của cá nhân nào. Đây là chuyện cơ chế khuyến khích, và cơ chế thì lại sửa được, dễ hay khó thì tôi không biết được, vì tầm nhìn hạn hẹp của tôi chỉ tới đây, tuy nhiên trong thâm tâm tôi nhận biết rằng, chúng có thể sửa được, chỉ nằm ở việc chúng ta muốn sửa đến đâu mà thôi.
Rồi tới cái đồng hồ vĩnh cửu mà không ai tạm dừng được: dân số. Trung Quốc từng phát đi cảnh báo nguy cơ chưa giàu đã già, và Việt Nam đang đi vào đúng vết đó, có khi còn gấp gáp hơn. Dân số Việt Nam đang già đi nhanh, sinh suất giảm dưới mức thay thế, thời kỳ dân số vàng đang dần khép lại. Nói cho dễ hình dung, chúng ta có một cửa sổ thời gian mà lực lượng lao động còn dồi dào và tỷ lệ người phụ thuộc còn thấp, và cửa sổ đó đang đóng dần. Nếu năng suất không kịp tăng lên trước khi dân số già đi, thì gánh nặng an sinh, y tế, hưu trí sẽ đè lên một nền kinh tế còn chưa đủ giàu để gánh. Việt Nam có thể là nước đầu tiên trong khu vực già đi trước khi kịp bước qua ngưỡng thu nhập cao. Cái đồng hồ này là lý do mà mọi cải cách đều phải gấp, không phải chuyện để thong thả vài thập kỷ.
Cả ba nút thắt đó gặp nhau ở một con số cụ thể đang gây tranh luận. Chính phủ đặt mục tiêu GDP đầu người đạt 8.500 đô vào năm 2030. IMF dự báo tới 2030 Việt Nam chỉ đạt khoảng 6.320 đô. Khoảng cách hơn hai nghìn đô trong năm năm. Để lấp đầy khoảng cách đó, tăng trưởng phải giữ ở mức rất cao, chính phủ nói cần khoảng 10% mỗi năm, trong khi năm 2025 đạt 8,02%, vốn đã là mức thuộc hàng cao nhất thế giới. Tôi không đọc khoảng cách này như bằng chứng của thất bại. Tôi đọc nó như một lời nhắc rằng mục tiêu đặt ra rất tham vọng, và tham vọng thì không sai, miễn là nó đi kèm với sự trung thực về cái giá phải trả. Chuyên gia kinh tế Cấn Văn Lực từng đưa ra một kịch bản đáng suy nghĩ: nếu Việt Nam giữ được tăng trưởng bình quân 9% mỗi năm giai đoạn 2026-2030 và 8% giai đoạn 2031-2045, thu nhập quốc dân đầu người có thể đạt khoảng 22.600 đô vào năm 2045. Ông cũng nói thẳng một điều mà tôi tâm đắc, rằng không cần đuổi theo tăng trưởng hai con số bằng mọi giá, mà cần ưu tiên chất lượng, cơ cấu và hiệu quả của mô hình tăng trưởng, giữ lạm phát thấp, nợ công trong tầm kiểm soát, không hy sinh ổn định vĩ mô hay môi trường để đổi lấy con số nhất thời. Chạy nhanh mà phải bền, không phải chạy nhanh để mà kiệt sức.
Thuế má và chuyện hình thức hóa nền kinh tế
Có một mặt trận của cuộc vượt bẫy mà ít người xếp vào chung câu chuyện, nhưng theo tôi nó nằm ngay trung tâm: thuế. Cụ thể hơn là chuyện nhà nước đang cố nhìn thấy và đưa vào khuôn khổ cái khu vực kinh tế phi chính thức khổng lồ mà lâu nay gần như không quản lý được.
Từ ngày 1 tháng 1 năm 2026, theo Nghị quyết 198 của Quốc hội, thuế khoán và lệ phí môn bài đối với hộ kinh doanh chính thức bị xóa bỏ. Toàn bộ hộ kinh doanh, con số khoảng năm triệu, chuyển sang tự kê khai nộp thuế theo doanh thu thực tế thay vì đóng một mức khoán cố định như trước. Ngưỡng doanh thu chịu thuế được nâng lên 500 triệu đồng một năm, và hộ có doanh thu trên một tỷ phải xuất hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, kết nối dữ liệu thẳng với cơ quan thuế. Mới nghe qua thì đây là chuyện kỹ thuật thuần tuý khô khan. Nhưng thật ra nó là một trong những thay đổi có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất tới đời sống kinh tế Việt Nam trong nhiều năm tới.
Vì sao chuyện thuế lại dính tới bẫy thu nhập trung bình. Có mấy tầng liên hệ mà chúng ta có thể nhìn thấy dễ dàng.
Tầng thứ nhất là ngân sách. Muốn thoát bẫy phải chi cho R&D, cho giáo dục, cho hạ tầng, và những thứ đó cần tiền, đúng, cái gì cũng cần phải có tiền đầu tiên. Tiền đến từ một nền thuế đủ rộng. Một nền kinh tế mà phần lớn hoạt động diễn ra trong bóng tối phi chính thức, không hóa đơn, không sổ sách, thì nhà nước không thu được thuế đúng nghĩa, và cũng không có dữ liệu để hoạch định chính sách. Hình thức hóa khu vực hộ kinh doanh là cách mở rộng nền thuế đó. Con số cho thấy tác động ngay lập tức: thu ngân sách từ hộ kinh doanh năm 2025 đạt khoảng 32.840 tỷ đồng, tăng 37,5% so với năm trước, mức tăng cao nhất trong ba năm.
Tầng thứ hai sâu hơn, và liên quan trực tiếp tới cái bẫy chúng ta đang nói đến trong bài viết này. Muốn nâng cấp chuỗi giá trị thì cần doanh nghiệp phải có tư duy dám lớn. Nhưng ở Việt Nam có một tâm lý rất phổ biến mà tôi gọi là chủ nghĩa giữ nhỏ. Rất nhiều hộ kinh doanh chủ động không lớn lên, không đăng ký thành doanh nghiệp, để khỏi lọt vào tầm ngắm của thuế, thanh tra, thủ tục. Trong một môi trường mà người ta chưa tin vào thể chế, giữ mình nhỏ lại và mờ mờ là một phản xạ sinh tồn hoàn toàn hợp lý. Nhưng cộng lại ở quy mô cả nước, cái phản xạ hợp lý của từng cá nhân đó đã trở thành một cái bẫy tập thể. Một nền kinh tế toàn những chủ thể cố tình lùn đi thì không bao giờ sinh ra được tầng lớp doanh nghiệp tầm vóc để leo lên phân khúc cao hơn. Một quốc gia muốn giàu mạnh cần những công ty dám lớn lên, và công ty dám lớn lên cần tin rằng hay nhìn thấy được rằng lớn lên không phải là tự phơi mình ra để chịu rủi ro. Mục tiêu của Nghị quyết 68 là đến năm 2030 cả nước có hai triệu doanh nghiệp hoạt động, phần lớn phải đến từ việc hộ kinh doanh lớn lên thành doanh nghiệp thật. Bỏ thuế khoán, buộc minh bạch doanh thu, chính là bước đầu tiên để đẩy quá trình đó.
Tôi không tô hồng chuyện này, vì nó có mặt gai góc của riêng nó. Với ông chủ tiệm tạp hóa hay bà bán hàng ngoài chợ, chuyển từ mức khoán quen thuộc sang tự kê khai, làm quen với hóa đơn điện tử, phần mềm, sổ sách, là một cú sốc thật sự. Chi phí tuân thủ tăng, thời gian tăng, và nỗi lo bị phạt vì một lỗi thủ tục là có thật. Giữa năm 2025, khi quy định hóa đơn máy tính tiền bắt đầu siết, đã có hiện tượng nhiều tiểu thương tạm đóng cửa hoặc ngại xuất hóa đơn vì chưa hiểu được, chưa quen, chưa sẵn sàng. Hội tư vấn thuế phải lên tiếng kiến nghị đừng phạt nặng những sai sót thuần thủ tục trong giai đoạn chuyển đổi. Về phía cơ quan thuế, lãnh đạo ngành cũng xác định giai đoạn đầu ưu tiên đồng hành và hỗ trợ thay vì thanh tra xử phạt, tổ chức các đợt cầm tay chỉ việc, phối hợp với doanh nghiệp công nghệ tặng phần mềm kê khai miễn phí. Cách làm đó, nếu giữ được đúng tinh thần đồng hành, là cách làm hoàn toàn đúng. Chuyện hình thức hóa một khu vực năm triệu hộ không thể làm bằng roi vọt, phải làm bằng lòng tin rằng minh bạch hơn thì được lợi hơn, dễ vay vốn hơn, có cơ hội lớn lên chứ không phải bị làm khó hơn, phải chi nhiều hơn.
Điều tinh tế nhất, và cũng là chỗ nhà nước nên khéo léo, nằm ở chỗ này. Một tay nhà nước hứa với doanh nghiệp rằng sẽ không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, sẽ bảo vệ quyền tài sản, sẽ đồng hành. Tay kia lại quăng ra một cái lưới kê khai khiến người kinh doanh nhỏ lẻ lần đầu đối diện với nguy cơ bị phạt, bị tù. Với người trong cuộc, nếu không được giải thích và hỗ trợ tử tế, hai thông điệp đó dễ nghe thành một. Cho nên thành bại của cuộc hình thức hóa này không nằm ở quy định, quy định đã có, mà nằm ở cách thực thi. Làm đúng thì đây thực sự là bước tiến lớn đưa nền kinh tế ra ánh sáng và mở rộng nền thuế nuôi cuộc vượt bẫy. Làm vụng về thì nó lại góp phần đẩy người ta co lại còn nhỏ hơn, còn mờ hơn, có thể đi ngược với điều đang cần.
Chính phủ đang làm gì để vượt qua bức tường
Đây là phần tôi nghĩ nhiều người bỏ sót khi bàn về bẫy thu nhập trung bình, vì họ mải nói về vấn đề mà quên rằng Việt Nam đang có một chương trình cải cách vào loại tham vọng nhất khu vực. Có thể tranh luận về tính khả thi, nhưng không thể nói là không có nỗ lực. Và vì bài này là bài viết trên tinh thần tìm đường chứ không đi soi mói lỗi lầm, tôi muốn kể cho đủ những gì đang được Chính Phủ làm.
Trục lớn nhất là Nghị quyết 57, do Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành cuối tháng 12 năm 2024, về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ngôn ngữ của nghị quyết này rất thẳng thắng, gọi khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là chìa khóa vàng, là yếu tố sống còn để vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Điều đáng chú ý không chỉ là chữ nghĩa, mà là cách tổ chức. Tổng Bí thư trực tiếp làm Trưởng Ban Chỉ đạo, một tín hiệu cho thấy đây được đặt ở mức ưu tiên cao nhất. Trong năm đầu triển khai, Quốc hội đã ban hành hàng loạt luật liên quan, trong đó có những luật lần đầu xuất hiện ở Việt Nam như Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Khoa học Công nghệ và Đổi mới sáng tạo. Chủ trương nâng tỷ lệ chi ngân sách cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo từ 2% lên 3% tổng chi ngân sách nhà nước. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam được xếp hạng 44 trên 139, dẫn đầu nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp. Mục tiêu đưa kinh tế số chiếm 30% GDP vào năm 2030 và tối thiểu 50% vào năm 2045.
Điều tôi cho là quan trọng nhất trong Nghị quyết 57 lại là một câu về tư duy làm luật: loại bỏ tư duy không quản được thì cấm. Câu đó ngắn thôi nhưng nặng về chất lượng, vì nó đụng vào gốc rễ của cái điều đang làm nền kinh tế không dám đổi mới. Kèm theo là những cơ chế mà giới nghiên cứu khoa học chờ đã lâu: chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, khoán chi theo kết quả, đặt hàng theo sản phẩm đầu ra thay vì kiểm soát quy trình, thử nghiệm mô hình mới trong khuôn khổ sandbox. Đây là những thay đổi thể chế thật sự, không phải khẩu hiệu. Nếu được thực thi đúng, chúng có thể mở khóa đúng cái mà Việt Nam thiếu nhất, là năng lực đổi mới nội địa.
Trục thứ hai là Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, ban hành tháng 5 năm 2025, mà tôi đã nhắc ở phần thuế má ở trên. Điểm đột phá của nó là lần đầu tiên một nghị quyết ghi thẳng nguyên tắc không hình sự hóa các quan hệ kinh tế dân sự, ưu tiên xử lý bằng biện pháp hành chính, dân sự, kinh tế trước, cho doanh nghiệp cơ hội khắc phục hậu quả, và phân định rạch ròi trách nhiệm cá nhân với trách nhiệm pháp nhân, tài sản riêng của chủ với tài sản của doanh nghiệp. Đằng sau những dòng chữ đó là một sự thừa nhận quan trọng rằng nỗi sợ rủi ro pháp lý tùy tiện là một trong những thứ khiến vốn tư nhân không dám đặt cược dài hạn, và không có nền kinh tế thu nhập cao nào được xây trên nền móng của sự sợ hãi. Kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, và mục tiêu hai triệu doanh nghiệp vào 2030 là thước đo của tham vọng đó. Chỉ trong thời gian ngắn sau nghị quyết, số doanh nghiệp thành lập mới mỗi tháng tăng mạnh, một tín hiệu ban đầu đáng khích lệ dù vẫn còn quá sớm để kết luận.
Đi cùng với việc bảo vệ doanh nghiệp lương thiện là việc dọn dẹp phần đã mục ruỗng của nền kinh tế. Những năm qua, hàng loạt vụ án kinh tế lớn được đưa ra xét xử, từ những sai phạm trong phát hành trái phiếu và hoạt động ngân hàng cho tới đấu thầu, đất đai, năng lượng. Nhìn ở góc độ xây dựng thể chế, việc làm sạch những rủi ro hệ thống kiểu đó là điều kiện cần thiết cho một nền kinh tế trưởng thành, bởi không thị trường vốn nào lành mạnh khi những định chế lớn nhất có thể bị thao túng. Thách thức tế nhị, mà chính Nghị quyết 68 cố giải quyết, là làm sao xử lý nghiêm cái sai mà vẫn giữ được tinh thần dám nghĩ dám làm của số đông trung thực, để những gì đang vốn sạch sẽ không biến thành sự dè dặt khiến cả bộ máy bị chậm lại. Đây là bài toán vô cùng khó, và cách Việt Nam giải nó trong vài năm tới sẽ nói lên nhiều điều về chất lượng thể chế hơn bất cứ con số tăng trưởng nào.
Ngoài hai trục thể chế đó, còn cả một tầng hạ tầng đang được đặt xuống. Dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam với vốn đầu tư khổng lồ, chủ trương tái khởi động điện hạt nhân qua Luật Năng lượng nguyên tử sửa đổi để bảo đảm nguồn điện cho công nghiệp công nghệ cao, hạ tầng số và dữ liệu quốc gia, mũi nhọn bán dẫn với mục tiêu đào tạo hàng chục nghìn kỹ sư. Song song là cuộc tinh gọn bộ máy quy mô lớn, sáp nhập tỉnh, cắt giảm thủ tục hành chính với mục tiêu giảm ít nhất 30% thời gian, chi phí và điều kiện kinh doanh. Gộp lại, người ta hay nói tới một nhóm nghị quyết trụ cột của năm 2025, gồm khoa học công nghệ, kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế và đổi mới công tác xây dựng thi hành pháp luật, như bốn chân của cùng một cái bàn. Cái logic xuyên suốt của chúng, nếu tôi đọc đúng, là đặt thể chế lên trước. Nghị quyết 57 nói thẳng rằng thể chế là điều kiện tiên quyết, phải đi trước một bước. Đó là một nhận thức đúng, vì rốt cuộc cái phân biệt nước thoát được bẫy với nước nào mắc bẫy chính là chất lượng thể chế.
Tôi viết phần này với sự trân trọng thật lòng, vì một chương trình cải cách rộng và quyết liệt như vậy là điều đáng mừng, và nó cho thấy tầng hoạch định chính sách đã nhìn ra đúng vấn đề. Nhưng trân trọng không có nghĩa là ngây thơ. Khoảng cách giữa nghị quyết và đời sống, giữa văn bản và thực thi, luôn là chỗ mà mọi chương trình cải cách của Việt Nam gặp thử thách lớn nhất. Chính các doanh nghiệp, khi được hỏi sau hơn một năm thực hiện Nghị quyết 68, đã nói thẳng rằng điều họ mong nhất không phải là thêm chủ trương mới, mà là những chính sách cụ thể, đồng bộ, được thực thi nhất quán. Nghị quyết hay là một chuyện. Một cán bộ ở phường xử lý hồ sơ đúng tinh thần nghị quyết đó lại là chuyện khác. Cây cầu nối giữa hai chuyện đó mới là nơi cuộc vượt bẫy thật sự được đánh.
Điều quyết định không nằm ở con số
Quay lại cái nhãn mà Việt Nam đeo vào ngày 1 tháng 7. Tôi đã nói nó đẹp mà dễ gây ngộ nhận, và giờ đủ dữ kiện để nói rõ ý đó.
Cái nhãn thu nhập trung bình cao đo đạc chỉ một thứ duy nhất, là thu nhập quốc dân bình quân đầu người. Nó không đo năng suất, không đo bất bình đẳng, không đo chất lượng thể chế, không đo năng lực đổi mới, không đo được liệu người thợ và ông chủ nhỏ có tin vào ngày mai đủ để đặt cược dài hạn hay không. Chính World Bank cũng nhắc rằng phân loại thu nhập không đồng nghĩa với đạt mức sống nước phát triển. Vậy nên đọc cái nhãn như một chứng nhận đã thành công là cách đọc sai bét. Đọc nó như tấm vé vào một sân chơi khó hơn hẳn mới là đọc đúng ý nghĩa vốn có của nó. Từ đây trở đi, mọi thứ từng đưa Việt Nam tới đây, lao động rẻ, gia công, vốn ngoại, đều giảm dần tác dụng, và những thứ chưa từng là thế mạnh của mình, năng suất, công nghệ lõi, thương hiệu, thể chế minh bạch, mới là thứ quyết định cốt lõi.
Nếu gói cả bài viết này vào một ý, thì nó là thế này. Bẫy thu nhập trung bình không phải một cái hố mà một quốc gia sẩy chân rơi vào. Nó là một bức tường cao, và trèo qua bức tường đó là việc chỉ khoảng hai mươi ba nền kinh tế làm được trong hơn nửa thế kỷ. Những nước trèo qua đều phải làm được cả hai chuyện: dựng lên một tầng doanh nghiệp nội địa biết đổi mới và cạnh tranh toàn cầu, và xây được một thể chế đủ tốt để buộc nền kinh tế nâng cấp và đủ đáng tin để vốn dám ở lại lâu dài. Những nước đứng dưới tường đều thiếu một trong hai. Việt Nam hôm nay có tham vọng đúng đắn, có chương trình cải cách nhắm đúng chỗ, có tốc độ tăng trưởng khiến cả thế giới phải nhìn vào, và có một cửa sổ dân số đang dần khép lại và nhắc nhở chúng ta rằng thời gian không nhiều nữa. Cửa vẫn mở. Nhưng cửa hẹp, và nó không mở mãi.
Tôi không biết Việt Nam có trèo qua được không. Không ai biết chắc, kể cả những người lạc quan nhất. Điều tôi tin là câu trả lời sẽ không nằm trong bản tin công bố GDP quý sau, cũng không nằm ở việc con số đầu người chạm mốc nào vào năm nào. Nó nằm ở những chỗ chậm chạp và khó đo đạc hơn nhiều. Ở chỗ một kỹ sư giỏi quyết định ở lại làm nghiên cứu thay vì tìm một công việc an toàn. Ở chỗ một ông chủ xưởng sản xuất nhỏ có quyết định đăng ký thành doanh nghiệp và dám tự tin làm ăn lớn, vì lần này ông tin là lớn lên thì được lợi thực sự chứ không phải rước rủi ro vào thân. Ở chỗ một cán bộ ở phường xử lý hồ sơ đúng tinh thần cải cách chứ không phải đúng thói quen cũ. Những quyết định nhỏ đó, nhân lên hàng triệu lần, cộng lại thành câu trả lời cho câu hỏi lớn nhất. Cái nhãn đã đổi trên giấy tờ của World Bank. Còn cái xưởng, cái tin, cái đồng hồ dân số, thì vẫn đang chờ đợi.
Tài liệu tham khảo
- VietNamNet, Vietnam's economy takes off, enters upper-middle income bracket (GDP đầu người 5.026 USD; kịch bản Cấn Văn Lực 22.600 USD năm 2045). https://vietnamnet.vn/en/vietnam-s-economy-takes-off-enters-upper-middle-income-bracket-2483165.html
- Vietnam Briefing, World Bank Reclassifies Vietnam as an Upper-Middle-Income Economy (GNI 4.970 USD; yếu tố dân số; hiệu lực 1/7/2026). https://www.vietnam-briefing.com/news/vietnam-reaches-upper-middle-income-status-under-world-bank-classification.html
- Fortune, The World Bank has elevated Vietnam and the Philippines to upper-middle-income status (ngưỡng 4.636–14.375 USD; bẫy thu nhập trung bình; Khuong Minh Vu). https://fortune.com/2026/07/03/vietnam-philippines-world-bank-upper-middle-income-trap/
- VnEconomy, Vietnam officially elevated to upper-middle income status (GNI 4.490→4.970 USD; GNI tăng bình quân 10%/năm 2021–2025). https://en.vneconomy.vn/vietnam-officially-elevated-to-upper-middle-income-status.htm
- VietNamNet, Beyond the middle-income trap (IMF 4.740 USD; mục tiêu 8.500 USD vs dự báo 6.320 USD; già hóa dân số). https://vietnamnet.vn/en/beyond-the-middle-income-trap-2491837.html
- RMIT University, Transform or stall: Vietnam's middle-income dilemma (R&D 0,42% GDP; 76%→31% so với Trung Quốc; 11% Hàn Quốc, 6% Singapore). https://www.rmit.edu.vn/news/all-news/2025/jul/transform-or-stall-vietnams-middle-income-dilemma
- ERIA, Viet Nam 2045: How to Escape from the Middle-Income Trap (điểm ngoặt Lewis; Việt Nam đạt trung bình thấp khoảng 2008). <media/Books/2023-VietNam-2045/10_ch.6-How-to-Escape-Middle-Income-Trap.pdf>
- Wikipedia / The Economist – World Bank, Middle income trap (khoảng 23 nền kinh tế thoát bẫy giai đoạn 1960–2022). https://en.wikipedia.org/wiki/Middle_income_trap
- Economic Research Forum, Escaping the middle-income trap: lessons from East Asia's experience (hai lớp nâng cấp; Acer từ gia công lên thương hiệu riêng). https://theforum.erf.org.eg/2018/09/10/escaping-middle-income-trap-lessons-east-asias-experience/
- Springer, Responses to the Middle-Income Trap in China, Malaysia, and Thailand (Malaysia 9.069→9.766 USD; Hàn Quốc, Đài Loan mất ~15 năm lên thu nhập cao). https://link.springer.com/chapter/10.1007/978-981-13-2859-6_2
- Springer, ASEAN Four's middle income trap dilemma: evidence of the middle technology trap (bẫy công nghệ trung bình; mô hình đàn nhạn bay). https://link.springer.com/article/10.1007/s44216-024-00033-5
- Brookings, Developing Asia and the Middle-Income Trap (chảy máu chất xám Malaysia; sức ì của nhóm lợi ích). https://www.brookings.edu/articles/developing-asia-and-the-middle-income-trap/
- Vietnam.vn, Giấc mơ vượt bẫy thu nhập trung bình trên hành trình phát triển quốc gia (rồng, hổ và các nước mắc kẹt; góc nhìn Việt Nam). https://www.vietnam.vn/en/giac-mo-vuot-bay-thu-nhap-trung-binh-tren-hanh-trinh-phat-trien-quoc-gia
- Báo Chính phủ, Toàn văn Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân (không hình sự hóa quan hệ kinh tế; mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp). https://baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-102250505122337909.htm
- Báo Chính phủ, Toàn văn Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm
- Nhân Dân, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị (chi ngân sách KHCN 2%→3%; đóng góp KHCN, ĐMST, CĐS; chỉ số ĐMST 44/139). https://nhandan.vn/nghi-quyet-so-57-nqtw-cua-bo-chinh-tri-post933754.html
- Bộ Khoa học và Công nghệ, Nghị quyết 57 tạo chuyển biến trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (4.000 startup, 2 kỳ lân; cơ chế sandbox, chấp nhận rủi ro). https://mst.gov.vn/nghi-quyet-57-tao-chuyen-bien-trong-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-197260410104048547.htm
- einvoice.vn, Hộ kinh doanh chuyển sang kê khai thuế từ 2026 (Nghị quyết 198/2025/QH15; bỏ thuế khoán 1/1/2026; hóa đơn điện tử). https://einvoice.vn/tin-tuc/hkd-chuyen-sang-ke-khai-thue-tu-nam-2026
- VietNamNet, Bỏ thuế khoán sang kê khai: 7 việc hộ kinh doanh cần làm trước 1/1/2026 (phân nhóm hộ theo doanh thu; ngưỡng 500 triệu). https://vietnamnet.vn/bo-thue-khoan-sang-ke-khai-7-viec-ho-kinh-doanh-can-lam-truoc-1-1-2026-2473487.html
- Tuổi Trẻ / Người Lao Động, Bước ngoặt bỏ thuế khoán với hộ kinh doanh (thu ngân sách hộ kinh doanh 2025 đạt 32.840 tỷ, tăng 37,5%). https://tuoitre.vn/nld/buoc-ngoat-bo-thue-khoan-voi-ho-kinh-doanh-mo-loi-len-doi-doanh-nghiep-196260216225448722.htm
- Báo Chính phủ, Gỡ vướng cho hộ kinh doanh trước 'giờ G' chuyển sang kê khai thuế (kiến nghị không phạt nặng lỗi thủ tục; ngành thuế đồng hành). https://baochinhphu.vn/go-vuong-cho-ho-kinh-doanh-truoc-gio-g-chuyen-sang-ke-khai-thue-102251227184820812.htm
- Dân trí, Những "đại án" kinh tế, tham nhũng được đưa ra xét xử năm 2025 (Vạn Thịnh Phát, Phúc Sơn và các vụ liên quan). https://dantri.com.vn/phap-luat/nhung-dai-an-kinh-te-tham-nhung-duoc-dua-ra-xet-xu-nam-2025-20251229164440958.htm
Ghi chú: các số liệu thu nhập đầu người khác nhau tùy nguồn (Tổng cục Thống kê, IMF, World Bank) do khác nhau về phương pháp và tỷ giá; bài viết nêu rõ nguồn ở từng chỗ. Một số mục tiêu là kịch bản dự báo, không phải cam kết chắc chắn, bài viết cũng chỉ dưới góc nhìn chủ quan của người viết.
