Bên kia bờ của một triều đại
Angus Maddison là một người Anh có sở thích kỳ lạ: đếm tiền của những đế chế đã chết. Ông dành gần cả đời làm việc tại OECD và Đại học Groningen để tái dựng GDP của thế giới, ngược về từng thế kỷ, từng triều đại, bằng thuế ruộng, sổ hải quan, giá gạo, giá bạc, bất cứ mẩu dữ liệu nào còn sót lại. Kết quả là một bộ bảng số mà giới sử kinh tế đến giờ vẫn dùng làm điểm xuất phát cho mọi cuộc tranh luận. Trong bảng của Maddison, năm 1820 là một năm đáng dừng lại. Trung Hoa dưới triều Thanh khi đó chiếm khoảng một phần ba tổng sản lượng kinh tế của cả hành tinh. Ấn Độ chiếm thêm khoảng một phần sáu. Toàn bộ Tây Âu gộp lại mới ngang ngửa Trung Hoa. Còn Hoa Kỳ, đất nước vừa tròn bốn mươi tuổi, đóng góp chưa tới hai phần trăm, một con số ngang tầm với những nền kinh tế mà không ai buồn nhớ đến.
Chín mươi ba năm sau, năm 1913, bảng số đảo ngược. Mỹ một mình chiếm khoảng một phần năm GDP của thế giới và gần một phần ba sản lượng công nghiệp toàn cầu. Trung Hoa rơi xuống dưới chín phần trăm, và cái triều đại từng làm chủ một phần ba của cải nhân loại vừa sụp đổ hai năm trước đó, trong nghèo đói, nợ nần và những bản hiệp ước bất bình đẳng.
Tôi từng viết một bài dài về kinh tế nhà Thanh (bạn có thể xem tại đây), về việc một nền kinh tế khổng lồ tăng trưởng theo chiều rộng ra sao và đụng trần như thế nào. Bài viết này là mặt bên kia của tấm huy chương: trong đúng khoảng thời gian đó, chuyện gì đã xảy ra ở bờ bên kia của lục địa Á Âu, và nhất là ở bên kia Đại Tây Dương, để một xứ thuộc địa trồng thuốc lá biến thành trung tâm của thế giới hiện đại. Câu trả lời quen thuộc thường xoay quanh những từ lớn: tự do, khoa học, tinh thần khai sáng, đạo đức Tin Lành. Tôi nghĩ những từ đó chứa nhiều sự che đậy nhiều hơn là sự gợi mở. Nếu phải tóm câu chuyện trong một dòng, tôi sẽ viết thế này: phương Tây trỗi dậy vì ở một vài nơi rất cụ thể, vào một thời điểm rất cụ thể, con người trở nên quá đắt so với máy móc, và xã hội ở đó cho phép người ta hành động theo cái giá ấy. Toàn bộ phần còn lại, từ máy hơi nước đến Thung lũng Silicon, là hệ quả kéo dài hai trăm năm của một bài toán giá cả.
Bài toán giá cả ở nước Anh
Giữa thế kỷ 18, một người thợ xây ở London kiếm được số bạc gấp ba đến bốn lần một người thợ tương đương ở Bắc Kinh, Delhi hay Florence. Đây là con số mà nhà sử kinh tế Robert Allen bỏ ra hàng chục năm để thu thập từ sổ lương của các nhà thờ, công trường và bệnh viện khắp lục địa Á Âu. Cùng lúc đó, than ở Newcastle rẻ đến mức gần như cho không nếu so với giá năng lượng ở bất kỳ đô thị lớn nào khác trên thế giới. Nước Anh trước cách mạng công nghiệp là một nền kinh tế có cấu trúc giá quái dị: lao động đắt hiếm thấy, năng lượng rẻ hiếm thấy.
Cấu trúc giá đó biến một loại quyết định vốn dĩ vô lý ở mọi nơi khác thành quyết định sinh lời. Chiếc máy kéo sợi jenny của James Hargreaves, ra đời khoảng năm 1764, cho phép một người thợ làm công việc của tám người. Ở Lancashire, nơi lương thợ kéo sợi cao ngất, chủ xưởng bỏ tiền mua máy và hoàn vốn chỉ trong vòng một hai năm. Allen tính thử bài toán tương tự cho nước Pháp: thời gian hoàn vốn dài gấp mấy lần, nên máy móc lan ra chậm hơn. Còn ở Ấn Độ, nơi thợ kéo sợi ăn lương chết đói, chiếc máy jenny về mặt kinh tế là một khoản đầu tư lỗ. Người Ấn không dùng máy móc vì họ tính toán đúng về mặt lợi ích.
Máy hơi nước cũng đi theo logic đó. Cỗ máy của Thomas Newcomen năm 1712 ngốn than khủng khiếp, hiệu suất chưa tới một phần trăm, và chỉ tồn tại được ở đúng một chỗ trên trái đất: miệng mỏ than nước Anh, nơi nhiên liệu của nó gần như miễn phí vì đằng nào cũng là than vụn không bán cho ai được. Trong sáu mươi năm, hàng trăm cỗ máy Newcomen phì phò bơm nước ở các mỏ Anh, và chính quá trình vận hành đại trà đó tạo ra đội ngũ thợ máy, xưởng đúc, kinh nghiệm gia công để James Watt có nền móng tốt mà cải tiến. Bằng sáng chế bình ngưng tách rời của Watt năm 1769 cắt lượng than tiêu thụ xuống còn một phần tư, và từ khoảnh khắc đó máy hơi nước mới đủ rẻ để rời miệng mỏ, đi vào xưởng dệt, rồi leo lên đường ray.
Điểm đáng ngẫm nằm ở chỗ này: người Trung Hoa thời Tống đã biết dùng than luyện sắt trước người Anh sáu bảy trăm năm. Toán học Ấn Độ, thiên văn Ả Rập, in ấn và thuốc súng Trung Hoa, không có mảnh ghép tri thức nào của cách mạng công nghiệp là độc quyền của châu Âu. Cái nước Anh có mà nơi khác thiếu là một cấu trúc giá khiến việc thay người bằng máy móc trở thành cách làm giàu nhanh nhất, cộng với một tầng lớp đủ đông những người vừa biết tính lãi vừa biết cầm cờ lê. Cách mạng công nghiệp, nhìn gần, là một chuỗi hàng nghìn quyết định đầu tư nhỏ và hợp lý, chứ chẳng có phút thiên khải nào.
Cái trần sinh thái và những mẫu đất ma
Mà nói như vậy vẫn còn thiếu một nửa. Kenneth Pomeranz, trong cuốn The Great Divergence xuất bản năm 2000, làm một việc khiến giới sử học phương Tây mất ngủ: ông so sánh nước Anh thế kỷ 18 với vùng Giang Nam của nhà Thanh, đồng bằng sông Dương Tử, khu vực phát triển nhất Trung Hoa. Kết quả so sánh gây khó chịu cho niềm tự hào châu Âu. Tuổi thọ tương đương. Mức tiêu dùng đường, vải tương đương. Thị trường đất đai và lao động của Giang Nam thậm chí tự do hơn nhiều vùng của Tây Âu, nơi phường hội và luật lệ phong kiến còn trói tay người làm ăn. Đến tận khoảng năm 1750, nếu một người ngoài hành tinh nhìn xuống trái đất để dự đoán nơi nào sắp bùng nổ công nghiệp, Giang Nam là ứng viên không hề kém cạnh, nó chẳng thể chọn được ai đâu.
Cả hai nền kinh tế khi đó cùng lao về một bức tường giống nhau, cái mà Pomeranz gọi là trần sinh thái. Kinh tế tiền công nghiệp chạy bằng đất: lương thực từ đất, quần áo từ bông và cừu nuôi trên đất, nhiên liệu từ rừng mọc trên đất, và đất thì lại hữu hạn. Giang Nam đông dân đến mức phải nhập bông từ Hoa Bắc, gỗ từ thượng nguồn, gạo từ Hồ Quảng. Nước Anh cũng vậy, rừng bị đốn gần cạn từ thế kỷ 16, giá củi đốt tăng vọt.
Khác biệt nằm ở hai lối thoát mà nước Anh có còn Giang Nam thì không. Lối thứ nhất là địa chất: mỏ than của Anh nằm gần các trung tâm dân cư và có sông, có biển để chở. Trung Hoa không thiếu than, trữ lượng Sơn Tây thuộc hàng lớn nhất thế giới, nhưng Sơn Tây cách Giang Nam cả nghìn cây số đường bộ, và chi phí vận chuyển thời đó đủ giết chết mọi bài toán. Than Anh thay thế được củi, rồi tiện thể thay thế luôn cả cơ bắp. Mỗi năm nước Anh đào lên một lượng năng lượng mà nếu quy đổi ra rừng thì cần diện tích lớn hơn cả nước Anh để trồng. Họ thoát khỏi đất bằng cách đào xuống dưới đất.
Lối thứ hai nằm bên kia đại dương. Châu Mỹ cung cấp cho Anh bông, đường, gỗ, những sản phẩm thâm dụng đất mà nếu tự trồng trên đảo thì phải hy sinh hàng triệu mẫu ruộng lương thực. Pomeranz gọi đó là những mẫu đất ma: diện tích canh tác vô hình mà đế quốc thuê ngoài, phần lớn cày bằng lao động nô lệ. Riêng lượng bông nhập từ miền Nam nước Mỹ để nuôi các xưởng dệt Lancashire, nếu quy ra đất trồng tương đương, đã vượt xa toàn bộ đất canh tác của nước Anh. Giang Nam không có châu Mỹ của riêng mình. Vùng nội địa mà nó dựa vào cũng đông dân dần lên, cũng cần bông và gỗ cho chính họ, và cái van xả cứ thế khép lại.
Tôi thấy cách nhìn này lành mạnh hơn hẳn những lý thuyết văn minh luận. Nó không cần giả định người Anh thông minh hơn người Giang Nam. Nó chỉ cần địa chất, khoảng cách vận chuyển, và một đế quốc sẵn sàng dùng súng để giữ nguồn cung. Nhưng nó cũng chưa đủ, vì than và thuộc địa chỉ là nhiên liệu và nguyên liệu. Còn phải có một cỗ máy xã hội biết đốt thứ nhiên liệu đó thành tăng trưởng kép, năm này qua năm khác, mà không tự phá hỏng chính mình. Cỗ máy đó tên là thể chế.
Quyền được phá hủy
Năm 1688, giới quý tộc và thương nhân Anh làm một cuộc đảo chính gần như không đổ một giọt máu, mời một ông vua Hà Lan sang ngồi ngai với điều kiện: từ nay muốn thu thuế phải hỏi Quốc hội. Lịch sử gọi đó là Cách mạng Vinh quang. Hai nhà kinh tế Douglass North và Barry Weingast, trong một bài báo năm 1989 giờ đã thành kinh điển, chỉ ra hệ quả tài chính ít ai để ý của sự kiện chính trị này: một khi nhà vua bị trói tay trói chân, người ta mới dám cho nhà vua vay tiền. Lãi suất công trái Anh giảm liên tục sau 1688, và đến thế kỷ 18 chính phủ Anh vay được những khoản khổng lồ với lãi suất thấp nhất châu Âu. Cùng bộ máy đó nó đã đẻ ra Ngân hàng Anh năm 1694, thị trường chứng khoán London, và hệ thống bảo hiểm Lloyd's mọc lên từ một quán cà phê bình thường.
Đặt cạnh nhà Thanh, tương phản hiện ra rõ. Triều đình Bắc Kinh thu thuế nhẹ, can thiệp ít, và về nhiều mặt còn "tự do kinh tế" hơn các nhà nước châu Âu cùng thời. Nhưng nhẹ tay không đồng nghĩa với đáng tin. Ngũ Bỉnh Giám, tức Howqua, trùm thương nhân Quảng Châu đầu thế kỷ 19, có lúc được coi là người giàu nhất hành tinh, vậy mà toàn bộ cơ nghiệp của ông tồn tại nhờ giấy phép độc quyền triều đình ban cho và có thể bị rút lại bất cứ lúc nào. Các hàng thương Quảng Châu thường xuyên bị vắt kiệt bằng "quyên góp" cưỡng bức mỗi khi quốc khố cần tiền đánh trận hay đắp đê. Của cải ở đó là ơn huệ, không phải quyền. Mà khi tài sản là ơn huệ, người khôn ngoan sẽ đem tiền mua ruộng, mua chức, mua địa vị khoa bảng cho con, thay vì đổ vào một cái xưởng có thể bị tịch thu bất cứ lúc nào mà không thể lường trước được.
Nước Anh còn có một thứ ít được ca ngợi hơn nghị viện nhưng theo tôi quan trọng không kém: cơ chế cho phép thất bại một cách trật tự. Luật phá sản để người thua cuộc đứng dậy làm lại. Công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn để rủi ro được chia nhỏ cho hàng trăm người thay vì đè chết một gia tộc. Bằng sáng chế, từ Đạo luật Độc quyền 1624, để kẻ nghĩ ra cái mới được hưởng lợi trong một thời hạn rồi phải nhả ra cho xã hội. Joseph Schumpeter sau này gọi động cơ của chủ nghĩa tư bản là sự phá hủy sáng tạo, nhưng phá hủy sáng tạo chỉ chạy được khi người bị phá hủy chấp nhận thua bằng luật thay vì bằng dao hay súng, và khi kẻ chiến thắng hôm nay biết rằng vị trí của mình cũng sẽ bị thách thức theo đúng luật đó. Các xã hội nông nghiệp trưởng thành, từ nhà Thanh đến các vương quốc châu Âu lục địa, đều có xu hướng đứng về phía trật tự hiện hành: phường hội được bảo vệ, nghề cũ được giữ, dòng người và tiền bị ghim vào chỗ của nó. Nước Anh, vì nhiều lý do lịch sử hơn là vì đức hạnh, đã để cho trật tự cũ bị gặm nhấm.
Ba mảnh ghép ấy, giá cả, năng lượng, thể chế, khớp vào nhau ở một hòn đảo nhỏ vào cuối thế kỷ 18. Kết quả không phải một cú nhảy vọt mà là một thứ chưa từng tồn tại trong lịch sử loài người: tăng trưởng kép kéo dài. Kinh tế Anh chỉ tăng trên dưới một phần trăm mỗi năm trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa, con số nghe rất khiêm tốn, nhưng đó là một phần trăm lặp lại năm này qua năm khác, thập kỷ này qua thập kỷ khác, lần đầu tiên thoát khỏi chu kỳ thịnh suy theo mùa màng. Lãi kép là loại sức mạnh mà mắt thường không thấy cho đến khi đã quá muộn để đuổi theo. Nhà Thanh nhìn sang phương Tây những năm 1800 và thấy một đám man di ở xa xăm, hơi giỏi đóng tàu. Bốn mươi năm sau, đám man di đó đã vượt biển và nã pháo vào thẳng Quảng Châu.
Nước Mỹ khởi nghiệp từ việc đi ăn cắp, có đúng như vậy không?
Bây giờ nói sang một nhân vật quan trọng khác ở thời đại này. Nước Mỹ năm 1790 là một xứ nông nghiệp ngoại vi với bốn triệu dân, xuất thuốc lá, bông, gỗ và họ nhập khẩu gần như toàn bộ hàng hoá chế tạo từ nước Anh. Trong bản đồ kinh tế thế giới, nó đứng đúng vị trí mà lý thuyết thương mại cổ điển xếp cho nó: nguồn nguyên liệu của công xưởng Anh. Nếu nước Mỹ ngoan ngoãn theo lời khuyên của Adam Smith và các nhà kinh tế Anh, cứ chuyên môn hóa vào nông sản và mua máy móc của mẫu quốc cũ, thì hôm nay có lẽ nó là một Argentina phóng to.
Nhưng nước Mỹ đã không ngoan ngoãn. Tháng 12 năm 1791, Bộ trưởng Tài chính đầu tiên Alexander Hamilton trình Quốc hội bản Báo cáo về Chế tạo, một văn kiện mà đọc lại bây giờ vẫn thấy sắc lạnh: một quốc gia chỉ trồng trọt sẽ mãi mãi phụ thuộc, vậy nên nhà nước phải dùng thuế quan bảo hộ ngành non trẻ, thưởng tiền cho công nghệ mới, xây hạ tầng, và tích cực chiêu mộ thợ lành nghề từ châu Âu. Cái vế cuối cùng đó, nói trắng ra, là lời kêu gọi vi phạm pháp luật nước Anh có tổ chức. Vì Anh khi ấy cấm ngặt: thợ máy ngành dệt không được xuất cảnh, bản vẽ và máy móc không được xuất khẩu, ai vi phạm bị phạt tù. London hiểu rất rõ rằng tài sản quý nhất của đế quốc không nằm trong két mà nằm trong đầu đám thợ cả ở Lancashire.
Samuel Slater là một thợ cả như thế. Hai mươi mốt tuổi, học việc bảy năm trong xưởng kéo sợi dùng hệ máy Arkwright ở Derbyshire, anh ta thuộc lòng toàn bộ thiết kế vì biết rằng mang theo một tờ giấy cũng đủ đi tù mọt gông. Năm 1789 Slater cải trang thành nông dân, xuống tàu sang New York, và một năm sau, với vốn của thương nhân Moses Brown, dựng lại từ trí nhớ chiếc máy kéo sợi chạy sức nước đầu tiên của nước Mỹ tại Pawtucket, Rhode Island. Tổng thống Andrew Jackson về sau gọi Slater là cha đẻ của cách mạng công nghiệp Mỹ. Ở quê nhà nước Anh, người ta gọi ông bằng cái tên khác: Slater kẻ phản bội.
Hai mươi năm sau, kịch bản lặp lại ở cấp độ tinh vi hơn. Francis Cabot Lowell, thương nhân Boston, sang Anh hai năm với lý do dưỡng bệnh, đi thăm hết các xưởng dệt Manchester và Scotland với tư cách khách quý, về nhà năm 1812 và cùng kỹ sư Paul Moody tái dựng từ trí nhớ chiếc máy dệt lực, thứ công nghệ được canh giữ chặt chẽ nhất của Anh quốc. Công ty của Lowell ở Waltham, Massachusetts còn đi xa hơn bản gốc: lần đầu tiên trên thế giới, toàn bộ quy trình từ kiện bông thô đến tấm vải thành phẩm nằm gọn trong một nhà máy duy nhất. Những người học trò không phép đã chép bài xong và giờ thì họ đã bắt đầu sửa bài.
Tôi kể hai chuyện này không phải để mỉa nước Mỹ, mà vì nó đặt lại một chuyện thời sự vào đúng khung của nó. Suốt thế kỷ 19, nước Mỹ là công xưởng sao chép lớn nhất thế giới: máy móc lậu, sách in lậu không trả một xu bản quyền cho Dickens, gián điệp công nghiệp được vinh danh như anh hùng lập quốc. Một trăm năm sau, khi đến lượt mình ngồi ghế bá chủ công nghệ, Washington dùng đúng những lời lẽ mà London từng dùng để mắng mình mà mắng Bắc Kinh. Không có một nước nào leo lên đỉnh bằng cách tôn trọng sở hữu trí tuệ của kẻ đứng trên mình, và cũng không một đất nước nào lên đỉnh xong mà không lập tức đòi kẻ dưới phải tôn trọng sở hữu trí tuệ. Đó gần như là một định luật.
Đất rộng, người đắt, và những khẩu súng tháo rời được
Bài toán giá cả từng châm ngòi cách mạng công nghiệp ở Anh, sang đến Mỹ, chạy ở cường độ cực đoan hơn hẳn. Nước Mỹ thế kỷ 19 thừa mứa mọi thứ trừ con người. Đất gần như vô hạn về phía Tây, và bất kỳ người thợ nào chán ông chủ đều có lựa chọn bỏ xưởng đi lập trại. Muốn giữ người, chủ xưởng Mỹ phải trả lương cao hơn Anh chừng một phần ba đến một nửa, tùy nghề và thời điểm. Với chủ xưởng, mỗi giờ lao động là một khoản chi xót ruột, và mọi cỗ máy nào tiết kiệm được giờ lao động đều đáng đồng tiền. Nếu logic của Allen đúng, nước Mỹ phải là nơi cơ giới hóa điên cuồng nhất hành tinh. Và nó đúng là như vậy.
Nơi thể hiện rõ nhất lại là một xưởng sản xuất của nhà nước: kho vũ khí liên bang ở Springfield, Massachusetts, cùng người anh em ở Harpers Ferry. Từ thập niên 1820, các kỹ sư ở đây, nổi bật là John Hall, theo đuổi một ý tưởng nghe tưởng đơn giản mà ở thời đó gần như dị giáo: chế tạo súng trường sao cho mọi bộ phận của khẩu này lắp vừa khẩu kia. Muốn vậy phải bỏ lối làm cũ của thợ thủ công, nơi mỗi khẩu súng là một tác phẩm được dũa tay cho khớp, và thay bằng máy phay, máy tiện chuyên dụng, dưỡng đo, dung sai. Chi phí đầu tư ban đầu khủng khiếp, chỉ có ngân sách quân đội mới chịu nổi, và trong nhiều năm giá thành mỗi khẩu súng làm kiểu mới còn đắt hơn kiểu cũ. Nhưng khi hệ thống mới vận hành tốt, năng suất và khả năng sửa chữa ngoài chiến trường vượt xa mọi thứ từng tồn tại.
Năm 1851, tại Đại Triển lãm ở Cung Thủy tinh London, ngay giữa thánh đường của công nghiệp Anh, gian hàng Mỹ ban đầu bị báo chí địa phương chế giễu là quê mùa. Rồi thợ khóa Alfred Hobbs người Mỹ lần lượt mở tung những ổ khóa danh tiếng nhất nước Anh trước đám đông, súng lục Colt tháo lắp lẫn bộ phận cho nhau ngon lành, và máy gặt McCormick gặt lúa nhanh gấp nhiều lần liềm hái. Ba năm sau, chính phủ Anh cử hẳn một ủy ban sang Mỹ nghiên cứu cái mà họ đặt tên là hệ thống chế tạo kiểu Mỹ, rồi đặt mua máy công cụ Mỹ về trang bị cho kho vũ khí hoàng gia Enfield. Học trò chép bài của thầy giáo chưa đầy bảy mươi năm, thầy giáo lại phải bắt đầu chép ngược lại bài của trò, nghĩ lại khá nực cười.
Từ súng, phương pháp này lan sang mọi thứ cần độ chính xác và số lượng: đồng hồ Waltham, máy khâu Singer, máy chữ, xe đạp, máy nông nghiệp. Mỗi ngành lại mài giũa thêm hệ máy công cụ, đào tạo thêm một lớp thợ máy giỏi, và tích lũy dần cái vốn vô hình quý nhất: biết cách sản xuất hàng loạt. Điểm đến của dòng chảy đó ai cũng biết tên. Năm 1913, Henry Ford cho chiếc khung xe Model T chạy trên băng chuyền qua từng người thợ đứng yên một chỗ, và thời gian lắp ráp hoàn thiện một chiếc xe rơi từ hơn mười hai giờ xuống dưới hai giờ. Giá Model T từ 850 đô la năm 1908 tụt xuống dưới 300 đô la vào giữa thập niên 1920, rẻ đến mức chính người công nhân trong nhà máy mua được sản phẩm do mình làm ra. Năm 1914 Ford tăng lương lên năm đô la một ngày, gần gấp đôi mặt bằng, mà lợi nhuận vẫn tăng, vì máy móc đã đẩy năng suất mỗi giờ lao động lên đến mức lương cao trở thành khoản chi chịu được. Vòng lặp khép kín: người đắt sinh ra máy, máy làm ra hàng hoá rẻ, hàng hoá rẻ cộng lương cao sinh ra tầng lớp tiêu dùng đại chúng đầu tiên trong lịch sử, và tầng lớp đó lại mua chính những cỗ máy kia. Không một nền kinh tế nào trước đó từng có cái vòng lặp này.
Biến không gian thành thị trường
Máy móc cần có một điều kiện nữa mới phát huy được, đó là quy mô. Sản xuất hàng loạt chỉ có ý nghĩa khi bán được hàng loạt, và muốn bán hàng loạt thì hàng hoá phải đi được xa với giá rẻ. Nước Mỹ đầu thế kỷ 19 rộng mênh mông nhưng rời rạc: chở một tấn hàng ba mươi dặm đường bộ tốn ngang chở nó vượt Đại Tây Dương. Cái quốc gia đó tồn tại trên bản đồ chính trị nhưng lại chưa tồn tại như một thị trường.
Kênh đào Erie là phát súng đầu tiên. Hoàn thành vào năm 1825, dài gần sáu trăm cây số nối Ngũ Đại Hồ với sông Hudson, nó kéo chi phí chở hàng từ Buffalo về New York giảm hơn chín phần mười và biến New York từ một cảng biển bình thường thành cái cửa ngõ nuốt gần hết thương mại của cả vùng Trung Tây. Các bang khác nhìn New York hốt bạc và lao vào đào kênh theo, rồi chưa kịp đào xong thì đường sắt ập tới và lấn ác luôn cả các dự án đào kênh. Năm 1840 nước Mỹ có khoảng ba nghìn dặm đường ray. Đến năm 1900, con số là gần hai trăm nghìn dặm, nhiều hơn toàn bộ châu Âu cộng lại. Năm 1869 hai đầu tuyến xuyên lục địa gặp nhau ở Utah, và một kiện hàng từ New York đi San Francisco rút từ vài tháng lênh đênh vòng qua mũi Sừng xuống chỉ còn một tuần.
Đường sắt còn để lại một di sản ít được kể hơn nhưng dai dẳng hơn cả đường ray. Nhà sử học kinh doanh Alfred Chandler chỉ ra rằng công ty đường sắt là doanh nghiệp hiện đại đầu tiên của loài người: hàng vạn nhân viên rải trên hàng nghìn cây số, tàu chạy ngược chiều trên cùng tuyến đường đơn, một sai sót điều phối là chết người theo nghĩa đen. Không gia đình nào quản nổi cỗ máy như vậy bằng quan hệ cha con hay anh chị em. Từ nhu cầu đó sinh ra tầng lớp quản lý chuyên nghiệp ăn lương, sơ đồ tổ chức phân cấp, kế toán chi phí, báo cáo định kỳ, tức là toàn bộ bộ xương sống của một doanh nghiệp hiện đại mà đến giờ mọi công ty trên thế giới vẫn mang. Ngay cả giờ giấc cũng phải khuất phục: năm 1883, các công ty đường sắt tự chia nước Mỹ thành bốn múi giờ để lịch tàu khỏi loạn, và cả quốc gia chỉnh đồng hồ theo giờ của tư nhân suốt hơn ba mươi năm trước khi Quốc hội hợp thức hóa.
Điện tín chạy dọc đường ray, và đến cuối thế kỷ, một thương nhân Chicago biết giá lúa mì ở New York trong vài phút. Thị trường kỳ hạn hay còn gọi là forward market ra đời ở Chicago để mua bán những vụ mùa chưa gặt. Sears Roebuck in cuốn catalogue dày hơn năm trăm trang gửi đến từng trang trại hẻo lánh, bán từ kim khâu đến cả căn nhà đóng kiện sẵn, giao bằng tàu hỏa. Đằng sau tất cả là một sự thật mà các đối thủ châu Âu không cách nào sao chép được, đó là nước Mỹ đã đạt được bảy mươi sáu triệu dân vào năm 1900, nói chung một thứ tiếng, xài chung một đồng tiền, không một trạm thuế nội địa nào từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương. Hiến pháp Mỹ cấm các bang đánh thuế hàng của nhau, và điều khoản khô khan đó có giá trị ngang mọi phát minh cơ khí cộng lại. Châu Âu phải đợi thêm gần một thế kỷ và hai cuộc đại chiến mới bắt đầu xây được thứ tương tự, gọi nó là thị trường chung.
Tiền của người khác
Còn một câu hỏi treo lơ lửng trên toàn bộ công cuộc xây dựng đó: tiền ở đâu ra. Đường sắt là công trình ngốn vốn khủng khiếp nhất mà loài người từng xây tính đến lúc ấy, và nước Mỹ thế kỷ 19, dù giàu tài nguyên, vẫn là một quốc gia nghèo vốn tích lũy. Câu trả lời thẳng thắn là: phần lớn là tiền của người khác. Giới đầu tư London, Amsterdam, Paris rót hàng tỷ đô la vào trái phiếu đường sắt Mỹ suốt thế kỷ, và trong nhiều thập kỷ, nước Mỹ là thị trường mới nổi lớn nhất thế giới theo đúng nghĩa mà ta dùng cho cụm từ này hôm nay, kèm đầy đủ đặc sản của thị trường mới nổi: bong bóng, quỵt nợ cấp bang thập niên 1840, những cơn hoảng loạn tài chính đều đặn mỗi mười lăm hai mươi năm.
Nhưng chính dòng vốn đó, cộng với núi chứng khoán đường sắt cần nơi mua bán, nuôi lớn Phố Wall từ một chợ giao dịch tỉnh lẻ thành thị trường vốn sâu nhất hành tinh. Và độ sâu của thị trường vốn, đến lượt nó, quyết định quy mô của những gì nền kinh tế dám làm. Năm 1901, chủ ngân hàng J. P. Morgan đứng ra mua lại toàn bộ đế chế thép của Carnegie với giá gần nửa tỷ đô la ở thời điểm đó, gộp với chục công ty khác thành U.S. Steel, công ty đầu tiên trong lịch sử được định giá trên một tỷ đô la, con số lớn hơn ngân sách cả năm của chính phủ liên bang lúc bấy giờ. Giao dịch cỡ đó bất khả thi ở bất cứ đâu khác trên trái đất, kể cả London. Khi Carnegie và Morgan bắt tay, tư bản Mỹ chính thức không cần hỏi vay mượn ai nữa.
Hệ thống ấy hoang dã, và cái giá của sự hoang dã được thanh toán định kỳ. Cơn hoảng loạn năm 1907 suýt đánh sập toàn bộ hệ ngân hàng New York, và người đứng ra dàn xếp cứu nguy, khóa cửa nhốt các chủ ngân hàng trong thư viện riêng của mình đến khi họ chịu góp tiền, lại chính là Morgan, một ông già bảy mươi tuổi hành xử như một ngân hàng trung ương một thành viên. Cả nước nhìn cảnh đó và rùng mình nhận ra vận mệnh tài chính quốc gia đang treo trên tim mạch của một cá nhân. Sáu năm sau, Quốc hội lập Cục Dự trữ Liên bang. Đến cả định chế quyền lực nhất của tài chính toàn cầu hôm nay cũng ra đời theo kiểu rất Mỹ: thị trường phóng hết tốc lực trước, đâm vào tường, rồi nhà nước mới đến dựng rào chắn ở đúng khúc cua đó.
Thép, dầu, điện, và việc phát minh ra sự phát minh
Nửa sau thế kỷ 19, trọng tâm của tiến bộ kỹ thuật dịch từ vải vóc và hơi nước sang một bộ ba mới, và ở cả ba mặt trận, Mỹ đều vượt mặt châu Âu ngay trên chính những công nghệ mà châu Âu phát minh.
Thứ nhất là thép. Quy trình thổi khí của Henry Bessemer, công bố ở Anh năm 1856, biến việc luyện thép từ nghề thủ công tốn hàng ngày trời thành phản ứng hóa học kéo dài hai mươi phút. Người khai thác nó triệt để nhất lại là một cậu bé nhập cư Scotland từng làm thợ thoi con trong xưởng dệt với lương hơn một đô la một tuần. Andrew Carnegie không phát minh thứ gì, tài năng của ông ta nằm ở chỗ khác: ám ảnh với chi phí trên từng tấn, xây nhà máy mới ngay khi công nghệ mới xuất hiện thay vì vá lại nhà máy cũ, và sẵn sàng phá giá để chiếm thị phần trong khủng hoảng khi đối thủ co cụm. Kết quả là giá ray thép ở Mỹ rơi từ khoảng một trăm sáu mươi đô la một tấn cuối thập niên 1860 xuống còn mười bảy đô la vào cuối thập niên 1890. Thép rẻ gần mười lần thay đổi hoàn toàn diện mạo của cả một quốc gia: đường ray bền gấp mấy lần ray sắt, cầu vượt sông Mississippi, khung nhà chọc trời Chicago, và máy công cụ đủ cứng để chế ra những máy khác. Năm 1900, một mình nước Mỹ luyện nhiều thép hơn Anh và Đức cộng lại.
Thứ hai là dầu. John D. Rockefeller lập Standard Oil năm 1870 ở Cleveland, và trong vòng một thập kỷ kiểm soát khoảng chín phần mười công suất lọc dầu của Mỹ bằng một tổ hợp phương pháp mà một nửa là thiên tài vận hành, nửa kia là bóp nghẹt đối thủ: hợp đồng chiết khấu bí mật với đường sắt, mua đứt hoặc đánh sập những ai không chịu bán lại, hệ thống kế toán soi từng xu chi phí trên mỗi thùng dầu. Điều dễ quên là suốt bốn mươi năm đầu, sản phẩm chính của ngành dầu là dầu hỏa thắp đèn, thứ ánh sáng rẻ tiền đầu tiên trong lịch sử loài người bình dân, còn xăng bị coi là phế phẩm nguy hiểm phải đổ bỏ. Rồi động cơ đốt trong xuất hiện, và cái phế phẩm đó biến nước Mỹ, khi ấy là nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới, thành nơi duy nhất mà ô tô có thể trở thành đồ vật đại chúng ngay từ ban đầu.
Thứ ba, và sâu nhất, là điện. Ở đây nước Mỹ đóng góp một thứ còn quan trọng hơn bóng đèn: nó công nghiệp hóa chính quá trình phát minh. Năm 1876, Thomas Edison mở tại Menlo Park, New Jersey một thứ chưa từng có tên gọi, về sau người ta gọi là phòng thí nghiệm nghiên cứu công nghiệp: vài chục kỹ sư, thợ máy, nhà hóa học làm việc có tổ chức, có ngân sách, có chỉ tiêu ra sản phẩm. Edison nói mục tiêu là một phát minh nhỏ mỗi mười ngày và một phát minh lớn mỗi sáu tháng. Phát minh không còn là tia chớp lóe lên trong đầu thiên tài cô độc, nó thành một dây chuyền có thể quản lý, có thể rót vốn, có thể nhân bản. Bóng đèn sợi đốt thương mại hóa năm 1879 chỉ là một sản phẩm của dây chuyền đó; trạm phát điện Pearl Street thắp sáng khu tài chính New York năm 1882 là một sản phẩm khác. Rồi Edison thua chính cuộc chơi mình mở ra: ông cố thủ với dòng điện một chiều, còn George Westinghouse cùng Nikola Tesla đặt cược vào dòng xoay chiều truyền được đi xa, và nhà máy thủy điện Niagara năm 1895 phân định thắng thua. Sự phá hủy sáng tạo đáng buồn thay, nó không chừa cả người sáng tạo.
Cái mô hình của Menlo Park được các doanh nghiệp lớn sao chép lại và phóng to: General Electric lập phòng nghiên cứu năm 1900, DuPont, Kodak, rồi Bell Labs năm 1925, nơi về sau sinh ra bóng bán dẫn, pin mặt trời, lý thuyết thông tin và mười mấy giải Nobel. Đến trước Thế chiến thứ nhất, cỗ máy đã chạy hết công suất: theo ước tính của Paul Bairoch, năm 1913 nước Mỹ một mình chiếm khoảng ba mươi hai phần trăm sản lượng chế tạo của thế giới, nhiều hơn gấp đôi Đức và xấp xỉ bằng Anh, Đức, Pháp cộng lại. Xin nhấn mạnh mốc thời gian: trước cả hai cuộc thế chiến. Những câu nói rằng nước Mỹ giàu lên nhờ chiến tranh tàn phá châu Âu thực ra đã đọc sai trình tự của câu chuyện đến vài chục năm.
Thế kỷ của vốn con người
Có một quyết định của nước Mỹ mà tôi cho là bị đánh giá thấp nhất trong toàn bộ câu chuyện này, và nó không liên quan gì đến máy móc. Năm 1862, giữa lúc nội chiến đang đốt cạn ngân khố, Quốc hội thông qua Đạo luật Morrill: cấp đất công cho các bang để lập đại học dạy nông nghiệp và cơ khí. Từ đạo luật đó mọc lên Cornell, MIT, Wisconsin, Berkeley và hàng chục trường học khác. So sánh với châu Âu cùng thời mới thấy độ lệch chuẩn của quyết định này: Oxford và Cambridge lúc ấy vẫn chủ yếu dạy kinh điển cổ đại cho con nhà quý tộc, còn nước Mỹ xây đại học để dạy con nông dân cách trồng ngô cho năng suất và thiết kế máy hơi nước. Tri thức hữu dụng được đối xử như hạ tầng, ngang với kênh đào và đường ray.
Tầng dưới của tháp còn quan trọng hơn tầng trên. Hai nhà kinh tế Claudia Goldin và Lawrence Katz gọi thế kỷ 20 là thế kỷ của vốn con người, và cuộc cách mạng thầm lặng nhất của nước Mỹ là phong trào trung học: năm 1910 chỉ khoảng chín phần trăm thanh niên Mỹ có bằng trung học, đến 1940 con số vượt năm mươi phần trăm, trong khi phần lớn châu Âu vẫn chặn cửa trung học bằng thi tuyển và học phí. Nền sản xuất điện khí hóa cần công nhân đọc được bản vẽ, tính được phân số, hiểu được quy trình, và nước Mỹ là nơi duy nhất sản xuất loại công nhân đó hàng loạt, bằng đúng logic sản xuất hàng loạt.
Cộng vào đó là dòng người. Từ 1870 đến 1914, khoảng hai mươi lăm triệu người nhập cư đổ vào nước Mỹ, phần đông trong độ tuổi lao động, tức là những con người mà chi phí sinh đẻ nuôi nấng mười tám năm đã có xã hội khác trả giùm. Một nền kinh tế đang khát lao động nhận được món quà nhân khẩu lớn nhất lịch sử, kèm miễn phí trong đó là những bộ óc kiểu Tesla người Serbia, Carnegie người Scotland, và sau này là cả một thế hệ các nhà vật lý chạy trốn khỏi châu Âu.
Chiến tranh, nói vừa đủ
Giờ mới đến chiến tranh, và tôi cố tình để nó gần cuối, vì vai trò của nó trong câu chuyện này là vai phụ có ảnh hưởng chứ không phải vai chính. Đến 1913, nước Mỹ đã là nền kinh tế và nền công nghiệp số một thế giới. Hai cuộc thế chiến không tạo ra vị trí đó. Chúng làm ba việc khác nữa.
Việc thứ nhất là đảo ngược dòng vốn. Năm 1914 Mỹ vẫn là con nợ ròng của châu Âu, vì cả thế kỷ xây đường sắt bằng tiền London. Bốn năm đại chiến, các cường quốc châu Âu bán sạch tài sản Mỹ họ nắm giữ và vay Washington khoảng mười tỷ đô la, và đến 1918 trung tâm tài chính thế giới đã dọn nhà từ London sang New York, âm thầm nhưng dứt khoát. Việc thứ hai xảy ra ở vòng sau: Thế chiến thứ hai đốt trụi phần còn lại. Năm 1945, Mỹ chiếm khoảng một nửa sản lượng công nghiệp của cả hành tinh và giữ chừng hai phần ba dự trữ vàng thế giới, đơn giản vì các nhà máy của mọi đối thủ và đồng minh đều đang bốc khói. Tại Bretton Woods tháng 7 năm 1944, bốn mươi tư quốc gia ký vào một trật tự tiền tệ neo mọi đồng tiền vào đô la và neo đô la vào vàng. Chế độ vàng chết năm 1971, nhưng vị trí của đô la thì ở lại đến ngày hôm nay, và đó có lẽ là chiến lợi phẩm lâu bền nhất của cả hai cuộc chiến.
Việc thứ ba thì tinh vi hơn: chiến tranh dạy nhà nước Mỹ cách mua khoa học. Kỹ sư Vannevar Bush, người điều phối toàn bộ nghiên cứu quân sự thời chiến từ radar đến bom nguyên tử, năm 1945 trình tổng thống bản báo cáo Khoa học, biên giới bất tận, đề xuất nhà nước liên bang tài trợ dài hạn cho khoa học cơ bản ở các đại học ngay cả trong thời bình. Từ đó ra đời Quỹ Khoa học Quốc gia và cái kiềng ba chân đại học, chính phủ, doanh nghiệp đặc trưng của Mỹ thời hậu chiến. Chiến tranh Lạnh bơm tiền qua kiềng đó theo những cách mà thị trường thuần túy không bao giờ làm: bóng bán dẫn ra đời ở Bell Labs năm 1947 bằng tiền tư nhân, nhưng vi mạch tích hợp những năm đầu đắt đến vô lý, và khách hàng gần như duy nhất chịu mua là Không quân cho tên lửa Minuteman và NASA cho tàu Apollo, nhờ đó sản lượng tăng, giá giảm xuống, cho đến lúc dân thường mua nổi. Mạng ARPANET năm 1969 do cơ quan nghiên cứu quốc phòng trả tiền, nửa thế kỷ sau nó là nơi anh đang đọc bài này. Công thức lặp đi lặp lại: nhà nước làm khách hàng đầu tiên chịu chi cho công nghệ chưa chín mùi, thị trường dân sự khổng lồ phía sau biến nó thành hàng hóa. Không có thị trường dân sự đó, tiền quân sự chỉ đẻ ra vũ khí; Liên Xô là một bằng chứng.
Cho nên nếu phải cân, tôi cân thế này: chiến tranh không xây nên nước Mỹ, nó nghiệm thu nước Mỹ. Năng lực đã được xây trong bốn mươi năm 1870 đến 1913, bằng thép của Carnegie, phòng lab của Edison và trường trung học ở Iowa. Hai cuộc thế chiến chỉ mở két của lịch sử ra và trao chứng nhận cho kẻ đã mạnh sẵn, kèm theo món tiền thưởng là quyền in đồng tiền của thế giới.
Bảng số chưa đóng lại
Quay lại bảng của Maddison lần cuối. Đường cong của Mỹ và đường cong của Trung Hoa cắt nhau ở khoảng thập niên 1880, một đi lên, một đi xuống, và khoảng cách toác ra suốt một thế kỷ. Nhìn từ xa, dễ tưởng đó là chuyện hai nền văn minh. Nhìn gần, tôi chỉ thấy một logic kinh tế chạy xuyên suốt: ở đâu con người đắt và của cải được luật pháp che chở, ở đó người ta chế máy để thay người, và máy đẻ ra của cải nhanh hơn mọi phương thức tích lũy nào loài người từng biết. Nhà Thanh nằm ở phía ngược lại của cả hai vế: người rẻ đến mức không máy nào cạnh tranh nổi, và của cải là thứ triều đình cho phép tồn tại.
Logic đó chưa hề dừng lại. Thung lũng Silicon hôm nay là hậu duệ trực hệ của kho súng Springfield: nơi tập trung thứ lao động đắt nhất hành tinh, và vì thế cũng là nơi ám ảnh nhất với việc tự động hóa mọi thứ, giờ đây kể cả tự động hóa chính việc suy nghĩ. Còn ở bên kia Thái Bình Dương, Trung Quốc suốt bốn mươi năm qua chạy lại gần như từng bước của kịch bản Mỹ thế kỷ 19: học lỏm công nghệ của kẻ đứng đầu, bảo hộ ngành non trẻ, xây thị trường nội địa khổng lồ sau lưng hàng rào, đổ tiền nhà nước vào hạ tầng và đại học, rồi đến một ngày bắt đầu rao giảng về sở hữu trí tuệ với những kẻ đến sau. Người Mỹ nhìn thấy điều đó và nổi giận, có lẽ vì họ nhận ra bài này ở đâu đó, rồi họ ngăn không để Trung Quốc nổi dậy, họ thành công hay không thì vẫn còn là một ẩn số trong tương lai.
Maddison mất năm 2010. Các học trò của ông vẫn cập nhật bộ bảng, và trong những cột số mới nhất, tỷ trọng của Trung Quốc đã leo về gần vạch của Mỹ, hai đường cong lại đang tiến sát nhau như từng tiến sát năm 1880, lần này theo chiều ngược lại. Tôi không biết chúng có cắt nhau nữa không, và nếu cắt thì thế giới phía sau giao điểm đó trông ra sao. Tôi chỉ biết một điều mà hai trăm năm dữ liệu này dạy khá rõ: vị trí số một chưa bao giờ là tài sản cố định. Nó là thứ được thuê lại từ lịch sử, và tiền thuê tính bằng khả năng tiếp tục tự phá hủy chính mình trước khi kẻ khác kịp làm việc đó giùm.
Nguồn tham khảo
- Angus Maddison, Contours of the World Economy, 1-2030 AD (Oxford University Press, 2007) và bộ dữ liệu Maddison Project Database, Đại học Groningen.
- Kenneth Pomeranz, The Great Divergence: China, Europe, and the Making of the Modern World Economy(Princeton University Press, 2000).
- Robert C. Allen, The British Industrial Revolution in Global Perspective (Cambridge University Press, 2009).
- Douglass C. North & Barry R. Weingast, "Constitutions and Commitment: The Evolution of Institutions Governing Public Choice in Seventeenth-Century England", The Journal of Economic History, 1989.
- Alfred D. Chandler Jr., The Visible Hand: The Managerial Revolution in American Business (Harvard University Press, 1977).
- David A. Hounshell, From the American System to Mass Production, 1800-1932 (Johns Hopkins University Press, 1984).
- Claudia Goldin & Lawrence F. Katz, The Race between Education and Technology (Harvard University Press, 2008).
- Robert J. Gordon, The Rise and Fall of American Growth (Princeton University Press, 2016).
- Paul Bairoch, "International Industrialization Levels from 1750 to 1980", Journal of European Economic History, 1982.
- Ron Chernow, Titan: The Life of John D. Rockefeller, Sr. (Random House, 1998) và Alexander Hamilton (Penguin, 2004).
- Vannevar Bush, Science, The Endless Frontier (báo cáo trình Tổng thống Hoa Kỳ, 1945).
- Doron S. Ben-Atar, Trade Secrets: Intellectual Piracy and the Origins of American Industrial Power (Yale University Press, 2004).
