Đại Thanh - Nền kinh tế nắm giữ một phần ba của cải thế giới
Mùa thu năm 1793, tại hành cung Nhiệt Hà phía bắc Trường Thành, vua Càn Long tiếp phái bộ của huân tước Macartney do vua George III phái sang. Người Anh mang theo kính viễn vọng, đồng hồ thiên văn, một khẩu đại bác kiểu mới, cả một mô hình chiến hạm bảy mươi khẩu súng, những thứ tinh xảo nhất mà cuộc cách mạng công nghiệp non trẻ của họ vừa nặn ra được. Tất nhiên họ muốn mở thêm cảng, muốn lập sứ quán thường trú, muốn một hiệp định thương mại. Càn Long xem qua các món quà, rồi gửi về cho George III một lá thư mà nội dung, tước bỏ hết lớp sáo ngữ triều đình, đại ý là: Thiên triều có đủ mọi vật trong bờ cõi, không thiếu thứ gì, nên chẳng cần đến hàng chế tạo của người phương xa.
Câu nói đó suốt hai thế kỷ nay bị đem ra làm bằng chứng cho sự ngạo mạn mù quáng của một đế chế sắp tàn. Nhưng nếu chịu khó bỏ cái nhìn hồi cố sang một bên, đứng đúng vào năm 1793 mà nhìn, thì Càn Long không có nói sai. Xét trên tổng lượng, đế chế của ông thật sự không thiếu gì. Đó là nền kinh tế lớn nhất địa cầu, đông dân nhất, nuôi được nhiều miệng ăn nhất, và đang ở giữa một thời kỳ thái bình dài bậc nhất mà Trung Hoa từng có. Người Anh đang cầm trong tay những cỗ máy sẽ hạ nhục nhà Thanh chỉ nửa thế kỷ sau đó, vậy mà lúc ấy họ đến trong tư thế kẻ đi ăn xin. Cả hai điều đó cùng đúng một lúc. Toàn bộ những gì tôi viết dưới đây là để hiểu tại sao chúng có thể cùng đúng.
Đo lường một sự phồn vinh, và đọc con số cho đúng
Trước khi nói nhà Thanh mạnh đến cỡ nào, phải thống nhất với nhau về chuyện đo đạc. Kinh tế của một đế chế nông nghiệp thế kỷ 18 không để lại bảng thống kê GDP. Mọi con số mà giới sử kinh tế đưa ra đều là tái dựng, ghép từ sổ thuế điền, giá gạo khắc trên bia đá, sổ lương thợ của công bộ, ước tính dân số từ sổ đinh. Người đầu tiên gom tất cả lại thành một bức tranh dài hạn là Angus Maddison, và con số của ông được nhắc đi nhắc lại đến mức trở thành huyền thoại: quanh năm 1820, Trung Hoa chiếm khoảng một phần ba tổng sản lượng kinh tế thế giới, đâu đó gần 33 phần trăm tính theo sức mua tương đương. Maddison đã cho rằng Trung Hoa là nền kinh tế lớn nhất hành tinh trong suốt quãng từ khoảng năm 1500 đến 1870.
Con số một phần ba đó vô cùng choáng ngợp, và nó có thật ở tầm vóc mà nó mô tả. Để dễ hình dung, nước Mỹ ở đỉnh cao quyền lực kinh tế sau Thế chiến thứ hai cũng chỉ chạm ngưỡng trên dưới 28 phần trăm. Chưa từng có nền kinh tế hiện đại nào một mình gánh một phần ba thế giới như nhà Thanh cuối thời Càn Long.
Nhưng đây là chỗ mà một người vừa đọc sử vừa đọc kinh tế phải dừng lại và xem lại các con số cho kỹ lưỡng. Thế hệ nghiên cứu sau Maddison, dẫn đầu là nhóm Stephen Broadberry, đã dựng lại toàn bộ hạch toán quốc dân lịch sử cho Trung Hoa từ đời Tống, đời Minh, đời Thanh, dựa trên sử liệu gốc thay vì giả định. Kết quả của họ chỉnh lại bức tranh theo hai hướng đáng chú ý. Thứ nhất, đỉnh cao tỷ trọng của Trung Hoa trong kinh tế thế giới có lẽ rơi vào khoảng năm 1600, thời Minh, chứ không phải 1820. Thứ hai, và điều này mới là mấu chốt, GDP đầu người của Trung Hoa không đứng yên trong suốt thời nhà Thanh mà có xu hướng đi xuống. Cái khối kinh tế khổng lồ ấy phình ra về tổng nhưng mỏng dần đi trên mỗi đầu người, tức là cuộc sống người dân không khấm khá hơn.
Ở đây hiện ra cặp phân biệt sẽ theo tôi suốt bài này. Một nền kinh tế có thể lớn lên theo hai cách rất khác nhau. Nó có thể lớn theo bề rộng, tức là thêm người, thêm đất, thêm giờ lao động, thêm thị trường, trong khi năng suất trên mỗi người gần như giữ nguyên. Và nó có thể lớn theo chiều sâu, tức là mỗi người làm ra nhiều hơn nhờ công cụ tốt hơn, năng lượng rẻ hơn, tổ chức sản xuất mới. Nhà Thanh thời Khang Càn là bậc thầy của kiểu thứ nhất và gần như đứng yên ở kiểu thứ hai. Theo ước tính của Maddison, GDP đầu người của Trung Hoa quanh năm 1820 vào khoảng 600 đô la quốc tế tính theo giá 1990, trong khi Tây Âu đã ở mức gấp đôi, cỡ 1.200. Một đế chế chiếm một phần ba của cải thế giới nhưng mỗi thần dân của nó chỉ giàu bằng nửa một người Tây Âu trung bình. Sự vĩ đại nằm ở phép nhân với một dân số khổng lồ, không nằm ở mức sống của từng người.
Cho nên khi tôi nói nhà Thanh mạnh hay không, tôi muốn nói rõ mạnh theo nghĩa nào. Đó là sức mạnh của tổng khối, của quy mô, của số đông. Nó có thật và nó đồ sộ. Nhưng nó là một loại sức mạnh rất riêng, và loại sức mạnh đó, như phần sau sẽ cho thấy, chứa sẵn sự giới hạn của chính nó.
Cuộc cách mạng lặng lẽ của các loại cây lương thực
Muốn hiểu vì đâu khối kinh tế ấy phình to đến thế, phải bắt đầu từ cái bụng. Nền tảng của toàn bộ sự phồn vinh nhà Thanh là một cuộc cách mạng nông nghiệp diễn ra âm thầm đến mức gần như không ai đặt tên cho nó.
Dân số Trung Hoa năm 1700 vào khoảng 150 triệu, xấp xỉ mức cuối đời Minh một thế kỷ trước đó. Đến giữa thế kỷ 18 đã vượt 300 triệu. Đến năm 1850, ngay trước loạn Thái Bình Thiên Quốc, con số chạm ngưỡng 430 tới 450 triệu. Trong vòng một thế kỷ rưỡi, dân số tăng gần gấp ba. Vào năm 1850, cứ mười người trên hành tinh thì hơn ba người là thần dân nhà Thanh. Đây là một trong những đợt bùng nổ dân số bền bỉ và ít đổ vỡ nhất mà lịch sử tiền hiện đại từng chứng kiến, và nó không đến từ phép màu. Nó đến từ các loại cây trồng trọt được.
Sau khi Columbus mở đường sang châu Mỹ, những giống cây của Tân Thế giới theo thuyền buôn Tây Ban Nha tới Manila, rồi từ Manila theo thuyền buôn Phúc Kiến về lục địa Trung Hoa vào cuối thế kỷ 16. Bắp, khoai lang, khoai tây, lạc, thuốc lá. Điều làm mấy loại cây này thành cuộc cách mạng không phải là chúng ngon hơn hay bổ hơn lúa gạo, mà là chúng mọc được ở nơi lúa gạo và lúa mì chịu thua. Khoai lang sống trên đất cát bạc màu. Cây bắp leo lên được sườn đồi khô. Những vùng đất mà nền nông nghiệp lúa nước cổ điển đành bỏ hoang, giờ nuôi được người. Nói theo ngôn ngữ kinh tế, mấy loại cây ấy mở ra một biên giới mới ngay bên trong đế chế, không cần đi chinh phục đâu xa.
Từ đó là cả một làn sóng khai khẩn nội địa. Dân đổ vào Tứ Xuyên tái định cư sau khi vùng này bị tàn phá trong buổi giao thời Minh Thanh. Dân leo lên vùng cao Trường Giang, tràn xuống Vân Nam, Quý Châu, ra Mãn Châu. Nhà nước phần lớn để yên cho quá trình này tự diễn ra, thậm chí khuyến khích, vì mỗi mảnh đất mới vỡ là thêm thuế điền, thêm ổn định. Cộng thêm vào đó là những cải tiến không ngoạn mục nhưng tích lũy: giống lúa Chiêm chín sớm cho phép cấy hai vụ, hệ thống thủy lợi được tu bổ, kỹ thuật bón phân và luân canh tinh vi hơn. Nông dân Trung Hoa thời này canh tác thâm canh đến mức mà một nhà nông học châu Âu đương thời nhìn vào phải kinh ngạc về sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích. Thành tựu này là có thật và thực sự lớn lao. Nuôi được ba trăm triệu người mà một thế kỷ liền không sụp vào nạn đói toàn diện là một kỳ công tổ chức và kỹ thuật mà ít xã hội nào làm nổi. Nhưng chính trong kỳ công ấy đã cài sẵn một cái ngòi nổ. Nhà sử kinh tế Philip Huang, khi nghiên cứu vùng đồng bằng Trường Giang và Hoa Bắc, đặt cho hiện tượng này một cái tên nghe hơi trúc trắc nhưng khá là chính xác: sự nội cuộn, involution (mình cũng từng có một bài viết liên quan đến nội cuộn, bạn có thể đọc thêm ở đây). Ý của Huang là thế này. Khi bạn cứ đổ thêm lao động vào cùng một diện tích đất hữu hạn, tổng sản lượng vẫn tăng, nhưng phần sản lượng mà mỗi lao động tăng thêm làm ra được thì giảm dần. Người thứ mười trên một mẫu ruộng vẫn góp thêm chút thóc, nhưng ít hơn nhiều so với người thứ năm. Hộ nông dân vẫn thấy có lợi khi cho thêm người ra đồng, cho vợ ngồi khung dệt, cho con nhặt từng bông lúa sót, bởi với họ, một chút thêm vẫn hơn không. Nhưng ở tầm cả nền kinh tế, đó là tăng trưởng mà không có phát triển. Của cải tổng cộng nhiều lên, năng suất mỗi người thì không.
Con số phản ánh điều này rõ nhất là diện tích đất canh tác trên đầu người. Vào năm 1736, đầu thời Càn Long, mỗi người dân có gần tám mẫu đất để dựa vào. Theo đà dân số tăng còn đất thì có hạn, con số đó cứ tụt dần qua từng thế hệ. Cùng một mảnh đất, mỗi lúc một nhiều miệng ăn hơn trông vào. Sự phồn vinh của mấy loại cây lương thực, xét cho cùng, cũng đồng thời là cỗ máy nghiền chính cái năng suất mà chính nó tạo ra.
Một nền kinh tế thị trường mà không có chủ nghĩa tư bản
Nếu chỉ có nông nghiệp thì bức tranh còn thiếu một nửa quan trọng. Nhà Thanh thời thịnh trị không phải một biển tiểu nông tự cấp tự túc rời rạc. Nó là một trong những nền kinh tế thị trường phát triển và liên thông bậc nhất thế giới đương thời, và chỗ này là nơi cuộc tranh luận học thuật nảy lửa nhất.
Hãy nhìn dòng chảy hàng hóa. Gạo từ Hồ Nam, Tứ Xuyên, Giang Tây theo Trường Giang xuôi về nuôi vùng hạ lưu. Bông và vải từ Hoa Bắc, tơ lụa từ Giang Nam, chè và đường từ Phúc Kiến, muối từ Lưỡng Hoài, tất cả di chuyển hàng ngàn dặm qua một mạng lưới sông ngòi và kênh đào mà xương sống là Đại Vận Hà nối nam bắc. Giá gạo ở các vùng cách xa nhau biến động ăn khớp với nhau, và với người thích đọc về kinh tế thì đây là dấu hiệu rõ ràng của một thị trường thật sự hội nhập, nơi thông tin và hàng hóa lưu thông đủ trơn tru để giá cả một nơi kéo theo giá cả nơi khác. Vùng hạ lưu Trường Giang, tức Giang Nam, chuyên môn hóa vào dệt và thủ công đến mức phải nhập gạo từ nơi khác về ăn, đúng theo logic phân công lao động vùng miền mà Adam Smith mô tả như động lực của thịnh vượng. Bên dưới dòng hàng hóa là dòng tiền và tín dụng. Các bang thương nhân Sơn Tây và Huy Châu dựng lên những mạng lưới buôn bán trải khắp đế chế, và người Sơn Tây còn lập ra các phiếu hiệu, một dạng nhà băng chuyển tiền cho phép thương nhân gửi bạc ở tỉnh này và rút ở tỉnh khác bằng giấy, thay vì è cổ vác bạc đi đường. Ở nông thôn Giang Nam, sản xuất thủ công tại gia phát triển thành một hệ thống mà giới sử kinh tế gọi là tiền công nghiệp hóa: thương nhân ứng bông cho hộ nông dân, hộ dệt thành vải, thương nhân thu vải đem bán, cả một chuỗi cung ứng phân tán vận hành qua thị trường chứ không qua mệnh lệnh.
Từ bức tranh này, sử gia Kenneth Pomeranz tung ra một luận điểm năm 2000 làm rung chuyển cả ngành, trong cuốn sách mà ông đặt tên là Cuộc Đại Phân Kỳ. Lập luận của Pomeranz, tóm lại một cách công bằng, là thế này. Nếu ta thôi so sánh cả Trung Hoa mênh mông với riêng nước Anh, mà so những vùng lõi tiên tiến nhất với nhau, thì vào khoảng năm 1750, Giang Nam và nước Anh gần như ngang ngửa. Ngang về mức sống, về tuổi thọ bình quân, về độ tinh vi của thị trường, về mức thương mại hóa. Theo Pomeranz, sự phân kỳ giữa phương Tây và phương Đông không phải là kết quả của một ưu thế thâm căn cố đế nào của châu Âu tích lũy qua nhiều thế kỷ. Nó diễn ra muộn, đột ngột, và mang tính may rủi hoàn cảnh: nước Anh tình cờ có những vỉa than đá nằm gần bề mặt và gần trung tâm sản xuất, lại tình cờ có cả một châu Mỹ mênh mông làm nguồn đất ảo cung cấp bông, đường, gỗ, giải tỏa áp lực tài nguyên mà Giang Nam không có lối thoát. Đây là một luận điểm đẹp và khiêu khích, và nó buộc mọi người phải nghiêm túc coi nhà Thanh là một nền kinh tế tiên tiến chứ không phải một khối trì trệ phương Đông theo định kiến cũ. Nhưng công bằng mà nói, phe xét lại đã phản pháo mạnh mẽ, và tôi nghĩ họ có lý ở những điểm cốt yếu. Robert Allen, người bỏ công dựng lại chuỗi tiền lương thực tế ở đồng bằng Trường Giang từ thế kỷ 18, tìm ra rằng mức sống của người lao động ở Tô Châu hay vùng Giang Nam tuy khá so với phần lớn châu Á, nhưng vẫn thấp hơn hẳn London hay Amsterdam, và chỉ ngang với những vùng châu Âu chưa hề chạm tới công nghiệp hóa. Nhóm Broadberry, bằng hạch toán quốc dân, cũng cho thấy nước Anh đã vượt lên trước về GDP đầu người từ sớm hơn nhiều so với mốc 1750 của Pomeranz. Bức tranh hiện lên từ số liệu mới là: Giang Nam giàu, nhưng không giàu bằng lõi Tây Bắc Âu, và khoảng cách đã mở ra trước khi cỗ máy hơi nước xuất hiện.
Chỗ tôi muốn dừng lại lâu hơn là một vấn đề mà cả hai phe đều phải thừa nhận. Nhà Thanh có gần như mọi thành tố của một nền kinh tế thị trường trưởng thành. Thị trường hàng hóa liên vùng, thị trường lao động, thị trường đất đai, tín dụng thương mại, hợp đồng, chuyên môn hóa. Cái nó không có, hoặc có rất yếu, là bước nhảy từ thị trường sang công nghiệp cơ giới hay còn gọi là công nghiệp hoá. Nó là một nền kinh tế thị trường mà không sinh ra chủ nghĩa tư bản công nghiệp. Lý do vì sao lại thế là câu hỏi trung tâm, và tôi sẽ quay lại nó sau khi bàn xong hai mảnh ghép còn thiếu: bạc và nhà nước.
Bạc, và nhà Thanh trong dòng chảy của cả thế giới
Có một sự thật về kinh tế nhà Thanh mà nếu chúng ta bỏ qua thì sẽ hiểu sai toàn bộ, đó là mối quan hệ của nó với bạc. Và câu chuyện bạc là câu chuyện toàn cầu, không phải câu chuyện nội bộ Trung Hoa.
Từ thế kỷ 16, các mỏ bạc khổng lồ ở Tân Thế giới, đặc biệt là ngọn núi bạc Potosí ở vùng nay là Bolivia và các mỏ ở Mexico, bắt đầu tuôn ra một lượng kim loại quý chưa từng có trong lịch sử loài người. Ước tính vùng châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha sản xuất khoảng 150.000 tấn bạc trong ba thế kỷ từ 1500 đến 1800, chiếm phần áp đảo tổng sản lượng bạc thế giới. Và một phần rất lớn của dòng bạc ấy, có ước tính lên tới một phần ba, tức khoảng năm mươi đến một trăm ngàn tấn, cuối cùng chảy về một nơi: Trung Hoa. Giới sử kinh tế gọi Trung Hoa thời này bằng một hình ảnh đắt tiền: cái hố bạc của thế giới, nơi bạc chảy vào mà gần như không chảy ra.
Điều khiến dòng chảy này vận hành là một sự chênh lệch giá đơn giản. Ở Trung Hoa, bạc có sức mua cao hơn hẳn phần còn lại của thế giới. Thương nhân Tây Ban Nha ở Manila ghi lại rằng người Hoa sẵn sàng trả cho bạc cái giá gấp đôi mức người châu Âu chi trả. Gốc rễ của sự thèm bạc ấy nằm ở chính sách thuế. Từ cải cách Nhất điều tiên pháp cuối đời Minh, thuế má và sưu dịch dần được quy về nộp bằng bạc thay vì bằng thóc hay lao dịch. Cả một đế chế mấy trăm triệu người bị buộc phải kiếm cho ra bạc để đóng thuế, trong khi mỏ bạc trong nước lại nghèo nàn. Cầu bạc khổng lồ gặp cung bạc nội địa cạn kiệt, kết quả là bạc từ khắp thế giới bị hút về Trung Hoa như nước dồn về chỗ trũng.
Con đường bạc lớn nhất là tuyến thuyền buồm Manila, chạy đều đặn giữa Acapulco bên bờ Thái Bình Dương của Mexico và Manila từ năm 1571 kéo dài đến 1815. Đây là tuyến hải thương xuyên đại dương thật sự đầu tiên trong lịch sử, và nó khép kín vòng tròn thương mại toàn cầu. Bạc Mỹ Latin vượt Thái Bình Dương sang Manila, đổi lấy tơ lụa, sứ, chè của Trung Hoa, những thứ mà cả châu Âu và châu Mỹ khao khát. Điều đáng nói là trong toàn bộ guồng máy này, phương Tây gần như không có món hàng nào Trung Hoa thật sự cần, ngoài chính bạc. Lá thư của Càn Long gửi George III, nhìn từ góc độ cán cân thương mại, chỉ là phát biểu thẳng thừng một sự thật kế toán: nhà Thanh xuất siêu triền miên và khổng lồ, thế giới chỉ có một thứ mà họ cần, một kim loại quý, đó là bạc.
Đến năm 1757, triều đình dồn toàn bộ giao thương với phương Tây về một cửa duy nhất là Quảng Châu, giao cho một nhóm thương nhân được cấp phép gọi là Công Hành đứng ra độc quyền làm trung gian. Cái mà sử sách phương Tây quen gọi là chính sách bế quan tỏa cảng, nếu nhìn kỹ, không hẳn là đóng cửa. Nó là thương mại được quản lý chặt và siêu lợi nhuận, tiến hành theo điều kiện của nhà Thanh, trên sân nhà nhà Thanh. Người Anh phải mua chè bằng bạc, năm này qua năm khác, và chính cái cán cân một chiều đó về sau đẩy họ tới nước cờ tuyệt vọng và tàn nhẫn của người Anh đó là bán thuốc phiện để đảo ngược dòng bạc.
Ở đây có một điểm yếu cấu trúc mà thời thịnh trị chưa ai nhìn ra. Một nền kinh tế mà lượng tiền tệ trong lưu thông phụ thuộc vào bạc nhập từ bên ngoài là một nền kinh tế đặt số phận tiền tệ của mình vào tay những lực lượng nằm ngoài tầm với. Chừng nào bạc còn chảy vào, mọi thứ trơn tru, giá cả ổn định, thuế thu đều. Nhưng khi dòng bạc thế giới đảo chiều, và nó đã đảo chiều vào đầu thế kỷ 19 khi các cuộc chiến giành độc lập ở Mỹ Latin làm gián đoạn khai mỏ, rồi thuốc phiện lật ngược cán cân thương mại, thì hậu quả dội thẳng vào lục địa Trung Hoa dưới dạng khan bạc, giảm phát, và một cuộc suy thoái kéo dài mà sử gọi là suy thoái Đạo Quang. Nông dân vẫn phải đóng thuế bằng bạc, nhưng bạc bỗng đắt lên so với đồng tiền đồng mà họ dùng hằng ngày, nên gánh thuế thực tế nặng thêm dù thuế danh nghĩa không đổi. Sự thịnh vượng dựa trên bạc ngoại nhập, khi ấy, hóa thành một sợi dây thòng lọng nằm chờ sẵn.
Đế chế khổng lồ, bộ máy thu tiền tí hon
Giờ đến mảnh ghép mà tôi thấy hấp dẫn nhất, và cũng là mảnh mà dưới con mắt của kinh tế học đã nhìn ra nhiều điều nhất, đó là chuyện tài khóa. Bởi vì nghịch lý lớn nhất của nhà Thanh thời thịnh trị nằm ở đây: đế chế lớn nhất, đông dân nhất, giàu tổng lượng nhất thế giới lại được vận hành bằng một bộ máy thu ngân sách nhỏ đến mức khó tin.
Cột sống của ngân khố nhà Thanh là thuế điền, đánh trên đất. Năm 1712, giữa lúc thái bình thịnh trị, Khang Hy ra một chiếu chỉ mang tính bước ngoặt mà ông diễn đạt bằng một câu nghe rất nhân từ: từ nay số nhân đinh sinh thêm trong thời thịnh trị sẽ vĩnh viễn không bị đánh thêm thuế. Ít năm sau, Ung Chính đi thêm một bước, gộp luôn khoản thuế thân vốn đánh theo đầu người vào thuế đất, một cải cách gọi là than đinh nhập địa. Về mặt hành chính, đây là bước hợp lý hóa gọn gàng. Nhưng về mặt tài khóa dài hạn, nó là một quyết định định mệnh. Nó đóng băng nguồn thu chính của nhà nước ở một mức danh nghĩa gần như cố định, đúng vào lúc dân số và kinh tế sắp bước vào một thế kỷ tăng trưởng bùng nổ.
Con số đã nói lên tất cả. Khoản thuế địa đinh, tức thuế đất gộp thuế thân, được giữ quanh mức ba mươi triệu lạng bạc mỗi năm, tương đương chừng một ngàn một trăm tấn bạc, và mức này được duy trì gần như suốt một thế kỷ cho tới năm 1850. Có một câu so sánh của giới nghiên cứu khiến tôi nhớ mãi: đến năm 1835, nhà Thanh về cơ bản đang vận hành với đúng cái ngân sách mà nó có vào năm 1735. Một trăm năm, dân số tăng hơn gấp đôi, kinh tế phình to, mà ngân sách nhà nước đứng nguyên tại chỗ. Tính theo tỷ lệ trên tổng sản lượng, nguồn thu chính thức của triều đình tụt từ khoảng bốn phần trăm GDP xuống chỉ còn nhỉnh hơn một phần trăm trước Chiến tranh Nha phiến.
Để thấy con số ấy dị thường đến mức nào, ta nên đặt cạnh phần còn lại của thế giới. Cùng thời kỳ, nước Anh sau cuộc Cách mạng Vinh quang 1688 thu thuế tương đương khoảng ba phần trăm thu nhập quốc dân, rồi đẩy tỷ lệ này lên tới mười tám phần trăm vào năm 1810. Tổng thu thuế của Anh tăng gấp mười bảy lần trong quãng một thế kỷ rưỡi. Nhật Bản thời Tokugawa rồi Minh Trị vận hành với nhà nước chiếm mười lăm tới hai mươi phần trăm GDP. Ngay cả nước Nga Sa hoàng cũng ở mức sáu bảy phần trăm, và ngay cả nhà Minh trước đó cũng thu quanh năm phần trăm. Nhà Thanh, với một hai phần trăm, là nhà nước nhẹ thuế nhất trong số các đế chế lớn đương thời, nhẹ đến mức dường như tự họ trói tay mình.
Thoạt nhìn, một nhà nước thu ít thuế, để yên cho dân làm ăn, nghe như thiên đường. Và trong ngắn hạn nó có mặt lợi thật, nó không bóp nghẹt kinh tế tiểu nông, không vắt kiệt thương nhân. Nhưng cái giá cấu trúc thì sâu và âm ỉ, và nó lộ ra ở ba chỗ:
- Thứ nhất là hàng hóa công thiếu hụt kinh niên. Một nhà nước có ngân sách cố định trong khi nền kinh tế lớn gấp đôi thì tất yếu không đủ tiền để làm những việc mà chỉ nhà nước làm được ở quy mô lớn: trị thủy các con sông ngày càng khó tính, duy trì hệ thống kho thóc bình chuẩn để chống đói, tu bổ đường sá và đê điều. Đúng vào lúc dân đông thêm khiến những việc này càng cấp thiết, thì túi tiền nhà nước lại co lại tương đối. Hệ thống trị thủy và cứu đói vốn là niềm tự hào của nhà nước Trung Hoa dần xuống cấp không phải vì quan lại lười biếng, mà vì đơn giản là không có tiền.
- Thứ hai, và điều này tinh vi hơn, là sự phình to của một nền tài chính ngầm. Khi lương bổng chính thức của quan lại bị đóng băng ở mức thấp một cách phi thực tế, và ngân sách vận hành bộ máy địa phương không được cấp đủ, thì bộ máy ấy không biến mất, nó chỉ chuyển sang nuôi mình bằng những khoản thu ngoài sổ sách. Quan phủ khắp nơi thu thêm các khoản phụ phí theo lệ, và ước tính các khoản ngoài luồng này có nơi lên tới năm sáu chục phần trăm cộng thêm trên mức thuế chính thức. Đây không hẳn là tham nhũng theo nghĩa cá nhân xấu xa, mà là hệ quả tất yếu của một bộ máy bị bỏ đói ngân sách buộc phải tự xoay sở. Ung Chính từng nhìn ra vấn đề này và cố vá bằng một cải cách khôn ngoan là cấp thêm một khoản gọi là dưỡng liêm ngân, tức tiền nuôi sự liêm khiết, hợp thức hóa một phần phụ thu để quan lại đủ sống mà không phải ăn bẩn. Nhưng cải cách ấy không giữ được lâu trước sức ép của cái ngân sách cố định. Đỉnh điểm của nền tài chính ngầm là trường hợp Hòa Thân, đại thần sủng ái của Càn Long, kẻ khi bị tịch biên tài sản cuối đời được cho là đã vơ vét một khối của cải tương đương nhiều năm ngân sách triều đình. Hòa Thân không phải một dị vật, ông ta là sản phẩm logic của một hệ thống mà quyền lực thì lớn còn lương bổng chính thức thì hư cấu.
- Thứ ba là chuyện năng lực ứng phó khủng hoảng. Một nhà nước thu ít thì cũng dự trữ mỏng. Ngân khố trung ương của nhà Thanh, ngay ở đỉnh cao thập niên 1790, tích được khoảng bảy mươi triệu lạng bạc, tức chỉ chừng hai năm tổng thu. Vừa hay lúc ấy nổ ra loạn Bạch Liên giáo kéo dài từ 1796 đến 1804, và riêng việc dẹp loạn đã ngốn tới gần một trăm năm mươi triệu lạng bạc, quét sạch khoản dự trữ mà mấy đời vua tích cóp. Một cú sốc là đủ để làm cạn sạch kho. Nhà nước không có công cụ nào để huy động nguồn lực lớn trong thời gian ngắn, vì nó không có thứ mà nước Anh đã có.
Và đây là điểm đối chiếu then chốt mà sử gia John Brewer gọi tên là nhà nước tài khóa quân sự. Nước Anh thế kỷ 18 làm được một việc mà nhà Thanh không hình dung nổi: nó biến khả năng thu thuế tương lai thành sức mạnh tiêu tiền hôm nay, thông qua nợ công. Có Ngân hàng Anh làm trụ, có một thị trường trái phiếu chính phủ đáng tin, nước Anh vay được những khoản khổng lồ để nuôi hải quân, tài trợ chiến tranh, và gián tiếp nuôi cả cái hệ sinh thái thể chế mà từ đó công nghiệp hóa mọc lên. Nhà Thanh không có ngân hàng trung ương, không có nợ công được tài trợ, không có thị trường vốn nhà nước. Sức mạnh tài khóa của nó là một cái kho tĩnh, đầy thì tiêu, cạn thì bó tay, chứ không phải một cỗ máy động có thể bơm căng khi cần. Khác biệt về kiến trúc tài chính này, tưởng chừng chỉ là chuyện kỹ thuật ngân sách, thật ra là một trong những khác biệt quyết định giữa hai quỹ đạo lịch sử.
Đỉnh cao của tăng trưởng theo bề rộng, và vì sao thành công lại là cái bẫy
Đến đây tôi có thể kéo các sợi lại thành một mối. Câu hỏi lớn đứng phía sau toàn bộ bài này là câu hỏi kinh điển mà giới sử kinh tế gọi là bài toán Đại Phân Kỳ: một đế chế giàu có, đông dân, thị trường phát triển, thủ công tinh xảo như nhà Thanh, tại sao lại không tự mình bước vào cách mạng công nghiệp, mà phải chờ đợi rồi bị nó nghiền nát từ bên ngoài. Tôi không nghĩ có một câu trả lời ngắn gọn, nhưng tôi nghĩ các mảnh ghép ở trên chỉ về cùng một hướng, và cái hướng ấy vừa sáng rõ vừa nghịch lý.
Trở lại cặp phân biệt ban đầu. Tăng trưởng theo bề rộng là loại tăng trưởng mà Adam Smith mô tả: của cải tăng nhờ mở rộng phân công lao động, mở rộng thị trường, đưa thêm đất và người vào sản xuất. Nhà Thanh khai thác loại này đến tận cùng. Nó có thị trường rộng nhất thế giới, phân công vùng miền tinh vi nhất, và một kho lao động gần như vô tận nhờ dân số bùng nổ. Nhưng tăng trưởng theo bề rộng có một cái trần cứng. Lợi ích từ phân công lao động, dù lớn đến đâu, là hữu hạn nếu không có một đột phá về công nghệ và năng lượng để phá vỡ mối ràng buộc giữa sản lượng và sức người. Smith biết điều này, ông gọi trạng thái chạm trần đó là nền kinh tế đã đạt tới mức giàu tối đa mà thể chế và tài nguyên của nó cho phép. Nhà Thanh, có thể nói, là ví dụ vĩ đại nhất lịch sử về một nền kinh tế chạm sát cái trần Smith.
Cái phá trần, ở nước Anh, là máy móc chạy bằng than. Và lý do nhà Thanh không đi theo con đường ấy, tôi cho rằng, nằm ở cấu trúc giá tương đối, chứ không nằm ở trí tuệ hay văn hóa. Đây là chỗ lập luận của Robert Allen sắc bén nhất. Một cỗ máy chỉ đáng chế tạo và lắp đặt khi nó thay thế được thứ gì đó đắt đỏ. Máy móc thời cách mạng công nghiệp về bản chất là công cụ tiết kiệm lao động: nó thay sức người bằng sức than. Ở nước Anh, lao động đắt và than rẻ, nên bỏ tiền mua máy để bớt thuê người là một phép tính có lời. Nhà phát minh có động cơ để sáng chế, nhà tư bản có động cơ để đầu tư, vì phần thưởng nằm ngay đó trong bảng cân đối. Ở đồng bằng Trường Giang thì ngược lại hoàn toàn. Lao động rẻ mạt vì có quá nhiều người, còn than thì hoặc nằm sâu, hoặc nằm xa những trung tâm dệt ở phía nam. Trong một thế giới mà sức người rẻ hơn sức máy, không ai có động cơ kinh tế để thay người bằng máy. Cỗ máy tiết kiệm lao động, ở nơi lao động vốn đã gần như cho không, là một món đầu tư lỗ.
Mark Elvin gói ý này vào một khái niệm mà tôi thấy là một trong những khái niệm đẹp nhất của ngành, cái bẫy cân bằng ở mức cao. Ý của Elvin là nông nghiệp và thủ công Trung Hoa đã đạt tới một trình độ hoàn thiện phi thường trong khuôn khổ công nghệ tiền hiện đại. Nó hiệu quả đến mức, với nguồn lao động dồi dào và giá rẻ sẵn có, gần như không còn khe hở nào để một cải tiến tiết kiệm lao động chen vào mà vẫn có lời. Nghịch lý nằm ở chữ mức cao. Không phải vì nhà Thanh lạc hậu mà nó mắc kẹt, mà chính vì nó quá giỏi ở cái mô hình cũ. Một nền kinh tế vụng về hơn, kém hiệu quả hơn, có khi lại còn nhiều dư địa để một sáng chế đột phá tạo ra khác biệt. Nhà Thanh thì đã vắt kiệt mọi lợi ích của mô hình tiền công nghiệp, ngồi yên ở đỉnh của nó, và chính cái thế ngồi vững vàng trên đỉnh ấy khiến việc trèo sang một ngọn núi khác trở nên không cần thiết và không sinh lời, đây mới là nguyên nhân thực sự đằng sau.
Ghép Elvin với sự nội cuộn của Huang thì bức tranh trọn vẹn. Kinh tế nông thôn nhà Thanh có thể hấp thụ gần như vô hạn lao động ở mức năng suất biên ngày một thấp. Cho nên trước một sức ép dân số, phản ứng tự nhiên và hợp lý của hộ gia đình không phải là đầu tư nâng năng suất, mà là đổ thêm người vào việc: thêm giờ, thêm lao động của phụ nữ nơi khung dệt, thêm bàn tay trẻ con ngoài đồng. Mỗi quyết định như vậy là hợp lý ở cấp hộ. Cộng lại ở cấp cả nền kinh tế, chúng khóa chặt xã hội vào một quỹ đạo dùng nhiều sức người mà ít vốn và ít máy, đúng cái quỹ đạo ngược với công nghiệp hóa.
Và đây là điều tôi muốn nói cho thật rõ, vì nó là trục xương sống của cả bài. Những gì làm nên sức mạnh của nhà Thanh và những gì cầm tù nó không phải là hai thứ khác nhau. Chúng là một. Nguồn lao động dồi dào giúp khai khẩn cả một đế chế và dệt ra hàng cho cả thế giới, cũng chính là nguồn lao động rẻ khiến máy móc vô nghĩa. Nền nông nghiệp thâm canh nuôi được ba trăm triệu người, cũng chính là nền nông nghiệp hút hết lao động vào ruộng đồng ở năng suất giảm dần. Một nhà nước nhẹ thuế để yên cho kinh tế tiểu nông phát đạt, cũng chính là một nhà nước không đủ sức và không đủ ý chí để đầu tư vào cái hạ tầng và thể chế mà một cuộc chuyển đổi công nghiệp cần đến. Thị trường liên thông rộng lớn tạo ra thịnh vượng theo bề rộng, cũng chính là thị trường không tự đẻ ra được động lực đi lên chiều sâu. Sự thành công của mô hình cũ, đẩy tới cực hạn của nó, chính là thứ làm cho việc từ bỏ mô hình cũ trở nên bất khả. Đỉnh cao không phải là bậc thang dẫn lên nấc tiếp theo. Trong trường hợp này, đỉnh cao là trần nhà.
1793, và cái bóng của một tương lai vô định
Bây giờ quay lại hành cung Nhiệt Hà, với lá thư của vua Càn Long, và đọc lại nó bằng tất cả những gì ta vừa dựng lên.
Càn Long không hề mê muội khi nói đế chế của ông không thiếu gì. Xét trên mọi đại lượng tổng, năm 1793 là một trong những năm huy hoàng nhất mà nền văn minh Trung Hoa từng đạt tới. Lớn nhất, giàu tổng lượng nhất, đông dân nhất, đang thái bình, nuôi sống được ba trăm triệu con người. Nếu đo sức mạnh bằng những gì một đế chế đang nắm giữ, bằng cái kho của cải và dân số và lãnh thổ mà nó tích được, thì nhà Thanh chưa bao giờ mạnh hơn khoảnh khắc đó. Người Anh đến với mấy món đồ chơi cơ khí, và trong con mắt triều đình, chúng đúng là đồ chơi, những vật khéo léo nhưng không đổi thay được gì trong một đế chế đã có tất cả.
Sai lầm của Càn Long, nếu gọi là sai lầm, không nằm ở chuyện đánh giá sai cái kho của mình. Nó nằm ở chỗ ông, cũng như gần như mọi người đương thời ở cả hai phía, không phân biệt được hai loại sức mạnh vốn rất khác nhau. Có sức mạnh đo bằng tồn lượng, tức tổng của cải, tổng dân số, tổng lãnh thổ, tổng sản lượng. Và có sức mạnh đo bằng năng lực thay đổi, tức tốc độ tăng năng suất, khả năng thích nghi công nghệ, khả năng huy động nguồn lực của nhà nước khi biến cố ập đến. Nhà Thanh cực đại ở loại thứ nhất và đang khựng lại ở loại thứ hai. Mấy cỗ máy của Macartney tầm thường ở loại thứ nhất nhưng lại là hạt giống của loại thứ hai, và loại thứ hai mới là loại quyết định trong thế kỷ sắp tới.
Rồi thì cú lật diễn ra nhanh đến mức tàn nhẫn. Chưa đầy hai thế hệ sau lá thư ấy, mọi điểm yếu cấu trúc mà thời thịnh trị đã gieo cùng chín một lúc. Dòng bạc đảo chiều vì thuốc phiện, kéo theo giảm phát và gánh thuế thực tế nặng lên vai nông dân. Ngân khố kiệt quệ, không đủ sức ứng phó khi loạn lạc bùng lên khắp nơi. Dân số đã tăng tới mức đất không còn gánh nổi, mà lại không có lối thoát công nghiệp nào để hút bớt lao động thừa ra khỏi ruộng đồng. Và từ ngoài biển, những nhà nước châu Âu chạy bằng hơi nước, đốt bằng than, được nạp bằng một cỗ máy tài khóa có thể huy động nguồn lực gấp nhiều lần nhà Thanh, kéo tới. Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất, từ 1839 đến 1842, kết thúc bằng thất bại của một đế chế từng chiếm một phần ba của cải thế giới trước một hạm đội nhỏ đến từ một hòn đảo xa xôi.
Điều mà cuộc chiến ấy phơi bày không phải là nhà Thanh nghèo. Nó không nghèo, nó vẫn là một khối kinh tế đồ sộ. Cái nó phơi bày là một sự thật khó nuốt hơn: của cải tổng lượng, khi không đi kèm với tăng trưởng năng suất và năng lực nhà nước, là một thứ sức mạnh giòn. Nó có thể rất lớn và rất dễ vỡ cùng một lúc. Đế chế không sụp vì đã cạn của cải, nó sụp vì loại của cải mà nó có không phải là loại của cải cứu được bản thân nó.
Và đây là chỗ mà tôi nghĩ một người đọc cả sử lẫn kinh tế mới nhìn ra được điều mà lối kể thông thường bỏ sót. Đỉnh cao phồn vinh và mầm mống suy vong của nhà Thanh không phải là hai chương nối tiếp nhau trong một cuốn sách, chương thịnh trước rồi chương suy sau. Chúng là cùng một hiện tượng, nhìn từ hai phía. Cái làm nó phồn vinh chính là cái làm nó mắc kẹt. Sự thịnh trị của thời Khang Càn không phải bị một sự suy đồi nào đó từ bên ngoài kéo xuống. Nó chín tới mức rữa ra từ bên trong chính sự chín của nó.
Chén chè mà nước Anh trả bằng bạc ở bến Quảng Châu, chỉ trong khoảng một đời người, đã thành chén chè họ trả bằng thuốc phiện. Vẫn thứ hàng ấy, vẫn bến cảng ấy, vẫn những thương nhân Công Hành ấy. Chỉ có cán cân của cả thế giới là đã lặng lẽ nghiêng đi, trên một cái trục mà không ai ở Nhiệt Hà năm 1793 kịp nhìn thấy: cái trục của việc ai làm ra được nhiều hơn trên mỗi bàn tay, chứ không còn là ai đang giữ nhiều thứ hơn trong kho.
Nguồn tham khảo
Sản lượng, dân số, và hạch toán quốc dân dài hạn
- Angus Maddison, Chinese Economic Performance in the Long Run (OECD Development Centre, 1998; tái bản 2007) và Contours of the World Economy, 1–2030 AD (Oxford University Press, 2007). Nguồn của con số Trung Hoa chiếm khoảng một phần ba GDP thế giới năm 1820.
- Stephen Broadberry, Hanhui Guan & David Daokui Li, "China, Europe, and the Great Divergence: A Study in Historical National Accounting, 980–1850," Journal of Economic History 78:4 (2018). Bản hiệu chỉnh cho thấy đỉnh tỷ trọng có thể rơi vào quãng 1600 và GDP đầu người Trung Hoa đi xuống suốt thời Thanh.
- Jutta Bolt & Jan Luiten van Zanden, "Maddison-style estimates of the evolution of the world economy" (bản cập nhật Maddison Project Database, 2023).
- Ho Ping-ti (Hà Bỉnh Đệ), Studies on the Population of China, 1368–1953 (Harvard University Press, 1959). Công trình nền tảng về dân số Minh–Thanh.
Nông nghiệp, cây lương thực Tân Thế giới, và nội cuộn
- Alfred W. Crosby, The Columbian Exchange: Biological and Cultural Consequences of 1492 (1972). Về sự du nhập ngô, khoai lang, lạc.
- Philip C. C. Huang (Hoàng Tông Trí), The Peasant Family and Rural Development in the Yangzi Delta, 1350–1988(Stanford University Press, 1990) và The Peasant Economy and Social Change in North China (1985). Nguồn của khái niệm nội cuộn (agricultural involution).
Đại Phân Kỳ, thị trường, tiền lương, và cái bẫy
- Kenneth Pomeranz, The Great Divergence: China, Europe, and the Making of the Modern World Economy(Princeton University Press, 2000).
- R. Bin Wong, China Transformed: Historical Change and the Limits of European Experience (Cornell University Press, 1997).
- Robert C. Allen, The British Industrial Revolution in Global Perspective (Cambridge University Press, 2009). Luận điểm nền kinh tế lương cao và cơ giới hóa.
- Robert C. Allen và cộng sự, "Wages, prices, and living standards in China, 1738–1925: in comparison with Europe, Japan, and India," Economic History Review 64 (2011). Dữ liệu tiền lương thực tế vùng Giang Nam.
- Mark Elvin, The Pattern of the Chinese Past (Stanford University Press, 1973). Nguồn của khái niệm bẫy cân bằng ở mức cao (high-level equilibrium trap).
Bạc và thương mại toàn cầu
- Dennis O. Flynn & Arturo Giráldez, "Born with a 'Silver Spoon': The Origin of World Trade in 1571," Journal of World History 6:2 (1995). Về Trung Hoa như cái hố bạc và tuyến thuyền buồm Manila.
- Richard von Glahn, Fountain of Fortune: Money and Monetary Policy in China, 1000–1700 (University of California Press, 1996). Về quá trình tiền tệ hóa bằng bạc và Nhất điều tiên pháp.
Tài khóa và năng lực nhà nước
- Zhang Taisu (Trương Thái Tô), The Ideological Foundations of Qing Taxation: Belief Systems, Politics, and Institutions (Cambridge University Press, 2022). Về chế độ thuế siêu thấp một tới hai phần trăm.
- Wang Yeh-chien (Vương Nghiệp Kiện), Land Taxation in Imperial China, 1750–1911 (Harvard University Press, 1973). Nguồn của con số thuế địa đinh cố định.
- Madeleine Zelin, The Magistrate's Tael: Rationalizing Fiscal Reform in Eighteenth-Century Ch'ing China(University of California Press, 1985). Về phụ thu ngoài luồng và dưỡng liêm ngân của Ung Chính.
- Patrick K. O'Brien, "The Political Economy of British Taxation, 1660–1815," Economic History Review 41 (1988). Nguồn của con số thuế Anh tăng từ 3% lên 18% thu nhập quốc dân.
- John Brewer, The Sinews of Power: War, Money and the English State, 1688–1783 (1989). Về nhà nước tài khóa quân sự Anh.
Sử liệu về phái bộ Macartney 1793
- J. L. Cranmer-Byng (biên tập), An Embassy to China: Being the Journal Kept by Lord Macartney during His Embassy to the Emperor Ch'ien-lung, 1793–1794 (1962). Chứa chiếu chỉ của Càn Long gửi George III.
