Khi còn có tất cả, bạn không học được gì. Đó là điều trớ trêu của cuộc sống.
Năm 1843, một ông già sáu mươi lăm tuổi vác súng đi làm lính thú ở biên trấn Quảng Ngãi. Vài năm trước đó, ông còn là Tổng đốc Hải An, là Thượng thư, là đại tướng cầm quân dẹp loạn khắp Bắc Kỳ. Tên ông là Nguyễn Công Trứ. Đời làm quan của ông bị thăng rồi giáng không biết bao nhiêu lần, có lần từ hàng đại thần rớt thẳng xuống làm lính trơn. Giai thoại chép rằng khi có người ái ngại hỏi thăm, ông trả lời đại ý: lúc làm đại tướng tôi không lấy làm vinh, thì nay làm lính tôi cũng chẳng lấy làm nhục.
Câu trả lời đó mới nghe qua tưởng là khẩu khí của mấy người cứng miệng. Sau khi đọc kỹ về cuộc đời ông mới thấy nó là kết quả của một thứ mà rất ít người có, chính là vì ông đã đi qua đủ nhiều vòng lên xuống để biết chính xác cái gì thuộc về mình và cái gì chỉ là đồ vay mượn. Chức tước là đồ mượn. Bổng lộc là đồ mượn. Sự nể trọng của đám đông là đồ mượn. Triều đình cho thì cầm, triều đình đòi thì trả. Cái còn lại sau khi trả hết, mới chính là bản thân ông.
Tôi nghĩ về ông già đó mỗi khi nghe ai nói câu này: khi còn có tất cả, bạn không học được gì. Đó là điều trớ trêu của cuộc sống. Và càng đi làm, càng va chạm, càng sống đủ lâu, tôi lại càng thấy câu đó đúng theo một cách rất vật lý, chứ không chỉ là triết lý an ủi.
Từ trường
Tiền bạc, địa vị, thành công, sức hút. Những thứ này tạo ra một từ trường theo đúng nghĩa đen của phép ẩn dụ: nó vô hình, nó tác động lên mọi vật xung quanh, và bản thân người đứng giữa từ trường thì hoàn toàn không cảm nhận được nó. Cá không biết nước. Người đang lên không biết mình đang được thu hút.
Khi từ trường mạnh, mọi thứ vận hành trơn tru một cách kỳ lạ. Lời mời nào cũng nồng nhiệt. Tin nhắn nào cũng được trả lời nhanh. Ý kiến của bạn trong cuộc họp tự nhiên có trọng lượng, dù đôi khi nó không hay hơn ý kiến của người ngồi cạnh. Người ta cười với câu đùa nhạt của bạn. Người ta nhớ sinh nhật bạn. Và bạn, đứng giữa tất cả những cái đó, rút ra một kết luận nghe rất hợp lý: mình được quý mến vì chính con người mình. Kết luận đó sai ở một chỗ khá cơ bản. Người ta quý mến cái tổ hợp gồm con người bạn cộng với từ trường quanh bạn, và không ai, kể cả chính bạn, tách được hai thành phần đó ra khi từ trường còn đang bật.
Aristotle đã mổ xẻ chuyện này từ hơn hai ngàn ba trăm năm trước, trong quyển tám của Đạo đức học Nicomachus. Ông chia tình bạn làm ba loại: tình bạn vì lợi ích, tình bạn vì niềm vui, và tình bạn vì phẩm hạnh của nhau. Hai loại đầu, ông viết rất thẳng thừng, chúng sẽ tự tan khi cái lợi hoặc cái vui không còn nữa, bởi vì người ta chưa bao giờ yêu bạn, người ta yêu cái thứ bạn mang lại. Điểm đáng nể trong cách Aristotle viết như thể ông không hề cay đắng với chuyện này. Ông không gọi loại tình bạn thứ nhất là giả dối. Ông chỉ gọi nó đúng tên: một quan hệ trao đổi, hoàn toàn chính đáng, miễn là hai bên đừng nhầm nó với thứ khác.
Cái nhầm đó mới là vấn đề. Tuyệt đại đa số quan hệ quanh một người đang thành công là quan hệ loại một và loại hai. Chuyện đó bình thường, thậm chí lành mạnh; xã hội vận hành bằng trao đổi. Bi kịch chỉ xảy ra khi người đứng giữa từ trường đếm hết đám đông quanh mình và tưởng tất cả là loại ba.
Gió đổi chiều
Rồi một ngày, cơn gió đổi chiều. Khoản đầu tư thất bại. Thương vụ đổ. Sản phẩm ế. Cơ hội mà bạn tưởng chắc mười mươi bỗng bốc hơi. Vài cuộc gọi không ai bắt máy, rồi nhiều cuộc gọi không ai bắt máy.
Nhà Phật có một khung nhìn gọn gàng cho chuyện này: bát phong, tám ngọn gió đời. Chúng đi theo bốn cặp: được và mất, vinh và nhục, khen và chê, sướng và khổ. Điểm cốt lõi của giáo lý này nằm ở chữ "cặp". Tám ngọn gió là một gói, không có bán lẻ. Anh mở cửa đón gió được thì cửa đó cũng là cửa gió sẽ mất đi. Không tồn tại một cuộc đời chỉ hứng bốn ngọn gió thuận. Ai sống đủ lâu đều sẽ lần lượt nếm đủ tám ngọn, khác nhau chỉ ở thứ tự và liều lượng.
Nguyễn Công Trứ hiểu rõ chuyện này đến mức đưa nó vào thơ. Trong Bài ca ngất ngưởng, ông viết hai câu mà riêng tôi cho là gói gọn cả một đời quan trường lên voi xuống chó: "Được mất dương dương người tái thượng / Khen chê phơi phới ngọn đông phong." Người tái thượng là ông già ở biên ải trong tích Tái ông thất mã: mất ngựa chưa chắc họa, được ngựa chưa chắc phúc, con trai ngã gãy chân tưởng là họa hóa ra lại thoát chết lính. Chuyện được mất, với người đã nhìn thấu cái vòng đó, chỉ như gió đông thổi qua mặt. Đâu phải vì họ chai lì. Vì họ biết ngọn gió nào rồi cũng đổi chiều, nên không ký gửi toàn bộ con người mình vào bất kỳ chiều gió nào cả.
Nói thì dễ. Tôi làm tự do hơn mười năm, đủ để đi qua vài mùa gió đổi chiều, và tôi có thể xác nhận: lúc gió đang xuôi, mọi lý thuyết về vô thường đều nghe rất hay ho và rất xa xăm. Nó chỉ trở thành kiến thức thật sự đúng vào cái ngày anh ngồi nhìn vài con số trên màn hình và hiểu rằng thôi, mọi chuyện đã hết thật rồi.
Sàng gạo
Chính vào lúc đó, các mối quan hệ bắt đầu tự tách ra, như cám tách khỏi gạo khi người ta sàng. Không cần ai làm gì cả. Cái sàng cứ lắc, và trọng lượng tự phân loại mọi thứ.
Lớp đầu tiên bay đi nhanh nhất là những người đến vì cơ hội. Họ rời đi gọn gàng, chuyên nghiệp, đôi khi còn kèm một lời chúc tốt đẹp. Lớp thứ hai rời đi chậm hơn và im lặng hơn: không tuyên bố gì, chỉ là tần suất thưa dần, tin nhắn trả lời trễ dần, rồi một ngày anh nhận ra cuộc trò chuyện gần nhất đã cách đây tám tháng. Và còn lại một nhóm rất nhỏ, nhỏ đến bất ngờ, những người vẫn ngồi đó, không hỏi han kiểu tò mò, không khuyên bảo kiểu kẻ cả, không cần gì ở anh hết. Có khi họ chỉ rủ đi ăn một bữa cơm rồi thôi.
Phản xạ tự nhiên của người đang rớt là oán. Oán lớp thứ nhất là bạc, oán lớp thứ hai là hèn. Tôi từng nghĩ vậy, và tôi cho rằng nghĩ vậy là phí một bài học lớn. Bởi vì những người rời đi không phản bội anh. Họ trung thành tuyệt đối, chỉ là trung thành với cái từ trường, chứ chưa bao giờ trung thành với anh. Khi từ trường tắt, họ đi tìm từ trường khác, đơn giản và tự nhiên như mạt sắt tìm nam châm. Họ bị hút về phía ánh sáng, về phía nhiệt, về phía nơi có thứ để trao đổi. Khi anh không còn gì để trao đổi, họ quay lưng chẳng phải vì ghét anh. Chẳng còn gì buộc họ phải quay mặt lại nữa, thế thôi. Cuộc đời vốn vận hành đơn giản như vậy, và nó đơn giản như vậy với tất cả mọi người, kể cả với chính anh, ở những từ trường mà anh từng là mạt sắt.
Câu cuối đó mới là câu khó nuốt. Ngồi kiểm lại danh bạ của mình một cách thành thật, ai trong chúng ta cũng sẽ tìm thấy vài cái tên mà mình từng nhiệt tình khi họ đang lên và nguội dần khi họ đi xuống. Mình cũng là cám trong sàng gạo của người khác. Nhận ra điều này xong thì hết oán giận ai nổi, chỉ còn lại một sự thông cảm hơi chua chát dành cho toàn bộ giống loài.
Nhưng cái sàng còn lọc ra một thứ quan trọng hơn cả danh sách người đi kẻ ở: nó lọc ra những ảo ảnh mà chính chúng ta đã dựa vào. Năm 1978, ba nhà tâm lý học Brickman, Coates và Janoff-Bulman công bố một nghiên cứu về sau trở thành kinh điển: họ phỏng vấn những người trúng số độc đắc và so sánh với nhóm đối chứng bình thường. Kết quả là sau một thời gian, mức hạnh phúc của người trúng số không cao hơn người thường một cách đáng kể, thậm chí họ còn thấy các niềm vui nhỏ hằng ngày trở nên mờ nhạt đi. Hiện tượng này giờ có tên riêng, hedonic adaptation, sự thích nghi của khoái cảm: tâm trí con người quy chuẩn hóa mọi hoàn cảnh, tốt lẫn xấu, rồi quay về mức nền cũ.
Nghiên cứu đó nói với tôi một điều mà lúc còn đủ đầy tôi lựa chọn không tin nó: phần lớn cái "sướng" mà tôi tưởng là do tiền và vị thế mang lại, thật ra chưa bao giờ đến từ chúng. Chúng chỉ đứng cạnh niềm vui và nhận công. Mất chúng đi, cái mất thật sự nhỏ hơn cái mất tưởng tượng rất nhiều. Đau nhất trong mất mát thường là đau vỡ ảo ảnh, chứ ít khi là đau vì bản thân món đồ ấy.
Bỏ vai
Và đây là chỗ mất mát bắt đầu trả công.
Trong King Lear của Shakespeare, có một cảnh tôi cho là tàn nhẫn và sáng suốt bậc nhất của văn chương phương Tây. Lear, ông vua đã chia hết vương quốc cho hai đứa con gái nói ngon nói ngọt, bị chính chúng lột dần từng thứ: trăm lính hầu, rồi năm chục, rồi hai lăm, rồi câu hỏi lạnh tanh "cha cần một người hầu để làm gì?". Cuối cùng ông đứng giữa cánh đồng hoang trong cơn bão, không mũ miện, không tùy tùng, không mái nhà. Và chính giữa cơn bão đó, lần đầu tiên trong đời, Lear nhìn thấy con người thật của mình. Ông nhìn gã ăn mày điên trần trụi trước mặt và thốt lên rằng con người khi không còn phẩm phục, chức tước, đồ trang sức vay mượn của đời, thì chỉ là thế này đây, một con vật trần trụi, hai chân, đầy tội nghiệp. Cả đời làm vua, Lear chưa từng thấy điều đó, vì cả đời làm vua, chưa ai cho phép ông có cơ hội để nhìn thấy, dù chỉ một lần.
Cái cơn bão lột sạch đồ đạc của Lear, phiên bản đời thường của nó chính là phá sản, thất thế, thất nghiệp, tay trắng. Nó buộc anh phải bỏ vai diễn. Anh không còn là người thành đạt, không còn là người thú vị trong bàn tiệc, không còn là người hữu dụng trong danh bạ của ai đó. Toàn bộ trang phục sân khấu bị lột sạch, và lần đầu tiên sau rất nhiều năm, anh đứng trước gương với đúng một câu hỏi: trừ hết các vai ra, mình là ai.
Người La Mã có một cách chủ động hơn để đối diện câu hỏi này, khỏi cần đợi bão tới. Seneca, một trong những người giàu nhất Rome thời đó, khuyên học trò Lucilius trong bức thư số 18 một bài tập nghe rất ngược đời: mỗi tháng dành ra vài ngày sống như người nghèo thật sự, ăn thứ rẻ nhất, mặc thứ thô nhất, nằm chỗ cứng nhất, rồi trong lúc đó tự hỏi chính mình: đây có phải là cái cảnh mà ta vẫn sợ hãi bấy lâu nay không. Ý của Seneca sâu sắc hơn mấy trò khổ hạnh làm màu. Ông biết rằng nỗi sợ mất luôn phồng to hơn bản thân của sự mất mát, và cách duy nhất để đo kích thước thật của nó là bước hẳn vào trong nó. Ai đã diễn tập cảnh nghèo và thấy mình vẫn sống được, người đó thương lượng được với cuộc đời từ một vị thế khác hẳn: không còn gì để dọa họ nữa. Đời Seneca về sau kiểm chứng bài tập của chính ông. Ông bị hoàng đế Claudius đày ra đảo Corsica tám năm, mất sạch địa vị giữa lúc đỉnh cao, và những bức thư ông viết từ chỗ lưu đày bình thản hơn hẳn văn chương của khối người đang tại vị.
Điểm chung của Lear, Seneca và ông lính già Nguyễn Công Trứ nằm ở một chỗ: cả ba đều phát hiện ra rằng cái vai diễn và người đang đóng vai đó là hai thực thể khác nhau, và phát hiện đó chỉ xảy ra một khi vai diễn bị tước đi. Chừng nào vai diễn còn dán chặt trên người, anh không có cách nào biết được bên dưới lớp phục trang có gì, hay tệ hơn, có gì hay không.
Đây là lý do tôi gọi mất mát là một món quà, dù là loại quà không ai dám đặt mua. Nó là cuộc kiểm toán duy nhất mà cuộc đời thực hiện miễn phí và trung thực tuyệt đối. Kiểm toán tài sản thì ngân hàng làm được. Kiểm toán quan hệ và kiểm toán bản thân, chỉ có sự mất mát mới làm được.
Căn phòng trống
Pascal viết trong Pensées một câu mà càng sống tôi càng thấy chính xác đến khó chịu: mọi bất hạnh của con người đều bắt nguồn từ một việc duy nhất, đó là không biết ngồi yên một mình trong căn phòng.
Lúc đọc câu này lần đầu, tôi tưởng Pascal nói về sự bận rộn. Sau này tôi hiểu ông nói về sự trốn chạy. Công việc, tiệc tùng, mạng lưới, các cuộc hẹn dày đặc, kể cả tham vọng, một phần rất lớn của những thứ đó là tiếng ồn chúng ta chủ động tạo ra để khỏi phải nghe thấy chính mình. Người càng thành công càng dễ mua được nhiều tiếng ồn chất lượng cao. Và mất mát, khi nó tịch thu hết tiền mua tiếng ồn, sẽ nhốt anh vào đúng căn phòng mà Pascal nói: căn phòng trống, chỉ có mình anh với anh.
Trong căn phòng đó, một câu hỏi cũ sẽ được lật lại. Người ta hay bảo rằng lúc sa cơ mới biết ai thật sự thương mình. Tôi từng tin câu đó, giờ thì tin dè dặt hơn nhiều, vì nó vẫn hướng ống kính ra ngoài, vẫn lấy người khác làm thước đo, nghĩa là vẫn chưa thoát khỏi cái logic từ trường cũ, chỉ đổi từ đếm người đến sang đếm người ở lại. Có một câu hỏi đáng giá hơn, và khó hơn gấp bội, hướng ống kính vào trong: khi mọi thứ khác rời đi, liệu mình có còn đủ quý bản thân hay không. Không có hào quang làm chứng, không có thành tích bảo lãnh, không có ai vỗ tay, anh có chịu đựng nổi sự hiện diện của chính anh trong bao lâu, và chịu đựng với thái độ gì.
Ba cái bẫy trong căn phòng đó, tôi thấy rõ như thấy ba góc tường. Bẫy thứ nhất là oán giận: ngồi lập danh sách những kẻ bạc bẽo, nuôi nó hằng ngày như nuôi cá cảnh, và tưởng vị đắng đó là sự tỉnh táo. Bẫy thứ hai là tuyệt vọng: đồng nhất mình với cái vai diễn 3 xu vừa mất, kết luận rằng vai đã hết thì người cũng hết. Bẫy thứ ba kín đáo nhất, là bám víu: dồn toàn bộ tâm trí vào việc dựng lại từ trường cũ càng nhanh càng tốt, để được quay về trạng thái không phải nhìn thấy gì nữa, học lại bài cũ với đúng cái giá cũ ở một thời điểm khác.
Ngồi yên được trong phòng trống, không rơi vào góc nào trong ba góc đó, là một năng lực. Nó không tự đến theo mất mát; mất mát chỉ mở lớp học, còn học được hay không lại là việc của từng người. Có người đi qua ba lần trắng tay vẫn không học được gì ngoài sự cay cú. Có người chỉ cần một lần, và họ bước ra khỏi căn phòng đó với một thứ mà tôi nghĩ là gần với tự do nhất trong những gì con người có thể sở hữu: sự bất khả xâm phạm. Không phải bất khả xâm phạm kiểu trơ lì hết cảm xúc. Bất khả xâm phạm theo nghĩa này: đời có thể lấy lại mọi món đồ nó cho mượn bất cứ lúc nào, nhưng phần cốt lõi đã được kiểm toán kia thì nó hết cách đụng vào, vì nó chưa bao giờ nằm trong danh mục tài sản thế chấp.
Người như vậy, khi từ trường bật trở lại, và nó thường bật trở lại, vì gió đổi chiều theo cả hai hướng, sẽ dùng nó rất khác. Họ vẫn nhận lời mời nồng nhiệt, vẫn bắt tay, vẫn cười đùa trong bữa tiệc, nhưng trong đầu họ có một cuốn sổ kế toán tách bạch: cột nào là đồ vay mượn, cột nào thực sự là của riêng mình. Họ không khinh cột đồ mượn, đồ mượn vẫn xài tốt và vẫn nên xài. Họ chỉ không bao giờ đem nó đi khoe như của nhà trồng nữa.
Ông già Nguyễn Công Trứ, sau lần làm lính thú đó, lại được phục chức, lại làm quan, rồi cuối đời về hưu cưỡi bò vàng đi chơi, đeo mo cau sau đuôi bò, ai hỏi thì bảo để che miệng thế gian. Tám mươi tuổi ông còn dâng sớ xin đi đánh giặc. Cả đời lên voi xuống chó ngần ấy bận, chữ ông chọn để tự họa lại là "ngất ngưởng", một chữ không có lấy một gam oán hận hay sợ hãi nào bên trong.
Tôi ngờ rằng cái ngất ngưởng đó được đúc trong những quãng thời gian ông làm lính trơn, chứ không phải trong những quãng ông làm đại tướng. Giữa doanh trại biên trấn, không phẩm phục, không ai chào đón, ông già ấy đã có thừa thời gian ngồi trong căn phòng trống của chính mình. Và rõ ràng là ông đã ngồi được.
