Tôi không biết chính xác mùi đó là gì. Nhưng tôi biết nó đã từng ở đó.
Nó là mùi của một buổi tối ngồi đọc blog của người mình chưa bao giờ gặp, đọc xong và ngồi im một lúc vì cần thời gian để tiêu hóa. Nó là mùi của một bình luận dài hơn cả bài gốc, tranh luận nghiêm túc nhưng không thù địch, kết thúc bằng câu “cảm ơn anh đã viết điều này.” Nó là cảm giác rằng ngoài kia có người đang thực sự suy nghĩ, và họ tin rằng người đọc cũng đang thực sự suy nghĩ, và giữa hai đầu màn hình đó có một sợi dây gì đó thiêng liêng và mong manh.
Sợi dây đó đã đứt. Không phải vì ai cắt. Mà vì người ta quên mất nó từng tồn tại.
Để hiểu chúng ta đã mất gì, phải nhớ lại chúng ta từng có gì.
Năm 2001, một nhà đầu tư và lập trình viên người Mỹ tên Paul Graham bắt đầu đăng những bài luận dài trên trang cá nhân paulgraham.com. Không có thiết kế đẹp. Không có newsletter. Không có thuật toán đẩy bài. Chỉ là chữ, trên nền trắng, với font mặc định của trình duyệt. Bài “Keep Your Identity Small” lập luận rằng con người càng gắn bản sắc mình vào một nhãn hiệu hay niềm tin cụ thể, họ càng mất khả năng suy nghĩ rõ ràng về chủ đề đó. Bài “What You Wish You’d Known” viết cho những người trẻ chuẩn bị bước vào đời, không phải theo kiểu motivational poster, mà theo kiểu một người lớn tuổi hơn đang nói thật, kể cả những điều không dễ nghe. Những bài đó được lan truyền hoàn toàn bằng cách người này gửi link cho người kia qua email, qua ICQ, qua các diễn đàn nhỏ. Không có viral mechanism. Chỉ có “tôi đọc cái này và nghĩ anh sẽ thích.” Đó là cách lan truyền của thứ có giá trị thực.
Cùng thời điểm đó ở Anh, một phụ nữ ẩn danh dưới bút danh Belle de Jour bắt đầu viết blog Diary of a Call Girl từ năm 2003. Tôi không nhắc đến blog này vì nội dung, mà vì giọng văn: thật đến mức không thể giả. Sắc sảo, hài hước, và đặc biệt là không xin lỗi ai. Người đọc không biết tên thật của cô, không biết mặt cô, nhưng tin cô. Tin theo nghĩa sâu nhất: họ tin rằng những gì được viết ra là suy nghĩ thực của một người thực, không phải màn trình diễn cho khán giả. Sau này người ta phát hiện ra Belle de Jour là tiến sĩ sinh học Brooke Magnanti. Nhưng điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là ngay từ đầu, người đọc cảm nhận được sự chân thật đó qua màn hình, bằng chữ viết thuần túy, không cần ảnh selfie hay video reaction. Ở Mỹ, nhà báo Andrew Sullivan điều hành blog The Daily Dish từ năm 2000, viết về chính trị, tôn giáo, văn hóa theo một cách mà ngày nay gần như tuyệt chủng: ông suy nghĩ to trước mặt người đọc. Ông không chỉ đưa ra quan điểm hoàn chỉnh, ông đưa ra quá trình đi đến quan điểm đó, bao gồm cả những chỗ ông không chắc, những lúc ông đổi ý, những lần ông bị bạn đọc chỉ ra rằng mình sai và ông thừa nhận. The Daily Dish có hàng triệu độc giả trung thành không phải vì Sullivan luôn đúng, mà vì ông luôn thật. Đó là hai thứ khác nhau hoàn toàn, nhưng ngày nay người ta đang nhầm lẫn chúng với nhau theo hướng ngược lại: người ta giả vờ luôn đúng thay vì cố gắng luôn thật.
Kris Carr, người Mỹ, được chẩn đoán ung thư năm 2003 và bắt đầu viết blog Crazy Sexy Cancer như một nhật ký cá nhân về hành trình điều trị. Không ai yêu cầu cô viết. Không ai trả cô tiền. Blog đó không có chiến lược content nào. Nó chỉ là một người đang sợ hãi và đang cố gắng tìm nghĩa lý trong nỗi sợ đó, và viết ra để không cảm thấy một mình. Nhưng chính vì lý do đó, nó chạm đến hàng trăm nghìn người đang cùng cảm thấy một mình với những nỗi sợ của họ. Đây là nghịch lý đẹp nhất của internet thế hệ đầu: điều cá nhân nhất lại trở thành điều chung nhất. Một người viết cho chính mình lại tìm thấy cộng đồng. Không cần target audience. Không cần persona. Chỉ cần thật. Còn ở Pháp và các nước châu Âu, giữa những năm 2000 nở rộ một dòng blog văn học và triết học mà người viết không phải giáo sư hay nhà phê bình chuyên nghiệp, họ là kỹ sư, giáo viên, sinh viên, những người đọc nhiều và có điều muốn nói. Một bài về Camus có thể được bình luận bởi cả nghiên cứu sinh lẫn thợ mộc, và thuật toán không ưu tiên ai cả. Danh tính không quan trọng bằng lý lẽ. Đây là thứ internet đầu tiên đã làm được mà không nền tảng lớn nào ngày nay còn làm được: nó tạo ra một không gian mà ý tưởng quan trọng hơn người có ý tưởng đó.
Nhưng rồi MySpace đến, và Xanga, blog 360 Yahoo. Những nền tảng này không xấu xa. Chúng chỉ dịch chuyển trọng tâm từ ý tưởng sang con người. Lần đầu tiên, không gian kỹ thuật số được thiết kế chủ yếu xung quanh cái tôi hơn là quanh điều cái tôi đó muốn nói. Trang MySpace của bạn là một tác phẩm tự họa: bạn chọn nhạc nền, chọn màu nền, xếp ảnh, liệt kê top 8 bạn bè. Nó hồn nhiên và vui. Nhưng nó đã bắt đầu huấn luyện một phản xạ mới trong não chúng ta: câu hỏi không còn là “tôi có điều gì đáng nói không?” mà thành “tôi sẽ trông như thế nào khi nói điều này?”
Đây là bước ngoặt tâm lý mà người ta không nhận ra vào thời điểm đó vì nó xảy ra quá từ từ và quá tự nhiên, như cách nhiệt độ tăng từng độ một trong câu chuyện về con ếch luộc.
Rồi thì Facebook xuất hiện năm 2004 và làm được điều mà MySpace chưa làm: nó chuyển mọi thứ thành số liệu có thể so sánh được. Like. Share. Comment. Follower. Reach. Những con số này trở thành proxy cho giá trị xã hội, và não người, vốn tiến hóa để nhạy cảm với tín hiệu địa vị xã hội, không phân biệt được sự khác nhau giữa được tôn trọng thực sự và được một nút nhỏ màu xanh.
Kết quả là một vòng phản hồi vô hình nhưng cực kỳ mạnh: những gì thu hút được nhiều like được viết nhiều hơn, những gì thu hút ít like dần biến mất. Không ai phải ra quyết định có ý thức rằng “tôi sẽ viết nông hơn, kích động hơn, đơn giản hơn để câu tương tác.” Nó xảy ra tự nhiên như cây cối nghiêng về phía mặt trời, bởi vì đó là cách mà học tập hành vi hoạt động. Não không phân biệt giữa “được khen vì viết hay” và “được like vì viết giật gân”, nó chỉ ghi nhận phần thưởng và học cách lặp lại hành vi dẫn đến phần thưởng đó.
Điều này không phải thuyết âm mưu về Facebook cố tình làm người ta ngu đi. Đây là hệ quả cấu trúc tất yếu của một mô hình kinh doanh: Facebook kiếm tiền bằng cách bán sự chú ý của người dùng cho nhà quảng cáo. Sự chú ý chỉ có thể bán khi người dùng ở lại nền tảng. Người dùng chỉ ở lại khi nội dung đủ kích thích. Và kích thích mạnh nhất, theo mọi nghiên cứu về thần kinh học hành vi, không phải là nội dung sâu sắc, mà là nội dung gây ra phản ứng cảm xúc nhanh và mạnh, đặc biệt là tức giận, phẫn nộ, và lo sợ.
Năm 2021, Frances Haugen, cựu nhân viên Facebook, tiết lộ hàng nghìn trang tài liệu nội bộ cho báo Wall Street Journal. Trong đó có những nghiên cứu nội bộ cho thấy Facebook biết rõ rằng thuật toán của họ ưu tiên nội dung gây tranh cãi và cảm xúc tiêu cực vì nó tạo ra nhiều engagement hơn. Họ biết. Và họ tiếp tục, vì engagement là tiền.
Đây là thời điểm thứ gì đó cơ bản thay đổi trong kiến trúc của sự giao tiếp trực tuyến: lần đầu tiên, người viết và người đọc đều đang bị một lực lượng thứ ba không nhìn thấy định hình hành vi của mình, không phải vì lực lượng đó xấu xa, mà vì nó có mục tiêu hoàn toàn khác với mục tiêu của người dùng. Người dùng muốn kết nối, muốn học hỏi, muốn chia sẻ. Nền tảng muốn giữ người dùng ở lại màn hình thêm ba phút nữa. Hai mục tiêu này đôi khi trùng nhau, nhưng ngày càng thường xuyên hơn, chúng mâu thuẫn.
YouTube thời kỳ đầu, khoảng 2007-2012, còn giữ được phần nào tinh thần của blog. Có những creator như Michael Stevens của kênh Vsauce, người đặt câu hỏi kiểu “tại sao bầu trời xanh lại khiến bạn nhớ đến mùa hè?”, rồi dẫn người xem qua một hành trình không thể đoán trước qua tâm lý học, vật lý học, triết học, ngôn ngữ học, và kết thúc ở một chỗ hoàn toàn bất ngờ. Video của Stevens không có hook trong 5 giây đầu. Không có thumbnail giật gân. Không có “like và subscribe để không bỏ lỡ video tiếp theo.” Nó chỉ là một người thực sự tò mò đang chia sẻ sự tò mò đó.
Hay CGP Grey, người làm video giải thích những câu hỏi kỳ lạ như “tại sao nước Anh không phải là Anh Quốc không phải là Quần đảo Anh?” hoặc “điều gì xảy ra khi hai quốc gia có cùng tên?” với mức độ nghiên cứu và cẩn thận hiếm gặp ngay cả trong báo chí chuyên nghiệp. Grey nổi tiếng vì mỗi video ông làm mất nhiều tháng, đôi khi cả năm. Ông không có lịch đăng định kỳ. Không có brand deals. Không có merch. Chỉ có video tiếp theo khi nó sẵn sàng. Và người xem chờ, vì họ biết khi nó đến sẽ đáng chờ.
Cả hai đều vẫn tồn tại trên YouTube ngày nay. Nhưng họ tồn tại như những cây cổ thụ giữa rừng nhiệt đới đang bị đốn hạ, bao quanh là hàng triệu creator đang học cách tối ưu hóa thumbnail, hook, retention rate, và watch time vì đó là thứ thuật toán thưởng. Không phải họ xấu. Không phải họ không có tài năng. Nhiều người trong số đó cực kỳ tài năng. Nhưng họ đang chơi một trò chơi mà luật lệ không do họ đặt ra, và luật lệ đó không được thiết kế cho người xem, nó được thiết kế cho doanh thu quảng cáo.
Và những năm gần đây, khi mà TikTok đẩy mọi thứ đến giới hạn logic của xu hướng này, và làm điều đó với một sự tinh vi kỹ thuật đáng kinh ngạc. Thuật toán của TikTok được các nhà nghiên cứu kỹ thuật số gọi là hệ thống gợi ý tiên tiến nhất từng được triển khai trong sản phẩm tiêu dùng đại chúng. Nó không cần bạn follow ai. Nó không cần bạn tìm kiếm gì. Nó học từ hành vi của bạn trong thời gian thực, từng phần giây một. Bạn dừng lại trên một video chó mèo dài hơn 0.3 giây so với video nấu ăn, nó ghi nhận. Bạn xem hết một video về tâm lý học nhưng skip video về tài chính, nó ghi nhận. Sau vài giờ sử dụng, nó biết bạn tốt hơn bạn tự biết mình.
Nhà thần kinh học người Mỹ Andrew Huberman mô tả cơ chế này là một dạng khai thác hệ thống dopamine. Não người tiến hóa để tìm kiếm phần thưởng không thể đoán trước: nếu phần thưởng xảy ra đúng lúc, não học và dừng tìm kiếm; nhưng nếu phần thưởng ngẫu nhiên và không thể đoán, não tiếp tục tìm kiếm liên tục. TikTok giải quyết điều này bằng cách cung cấp đủ video tốt để giữ bạn cuộn, nhưng không quá tốt đến mức bạn no. Bạn không bao giờ thực sự thỏa mãn. Bạn chỉ tiếp tục cuộn.
Hậu quả không chỉ là mất thời gian. Nó là sự tái cấu trúc thần kinh học theo nghĩa đen. Các nghiên cứu về khả năng chú ý của thanh thiếu niên Gen Z, lứa tuổi lớn lên cùng smartphone từ tiểu học, cho thấy khó khăn đáng kể với sustained attention, tức là khả năng duy trì tập trung vào một thứ trong thời gian dài. Không phải vì họ kém thông minh, mà vì não của họ được huấn luyện bởi môi trường để mong đợi kích thích mới sau mỗi 8-15 giây. Khi ngồi đọc một bài dài, não không kém thông minh, nó chỉ đang đau khổ theo đúng nghĩa sinh lý.
Jean Twenge, giáo sư tâm lý học tại Đại học San Diego, đã dành mười năm phân tích dữ liệu từ hơn 11 triệu người trẻ Mỹ và xuất bản kết quả trong cuốn iGen năm 2017, rồi cập nhật trong Generations năm 2023. Dữ liệu của bà cho thấy sức khỏe tâm thần của thế hệ sinh sau 1995 suy giảm đột ngột và rõ ràng từ năm 2012, đúng thời điểm smartphone trở nên phổ biến và Instagram ra mắt. Tỷ lệ trầm cảm nặng ở nữ thanh thiếu niên tăng hơn 50% từ 2010 đến 2019. Tỷ lệ lo âu tăng tương đương. Và điều này xảy ra không phải chỉ ở Mỹ, mà ở hầu hết các nước phát triển, theo cùng một đường cong thời gian.
Điều đau lòng không phải là con số. Điều đau lòng là những đứa trẻ này không biết rằng có một loại internet khác đã từng tồn tại, một loại internet mà người ta lên mạng để trở nên khôn ngoan hơn, không phải để trở nên phân vân hơn về ngoại hình của mình.
Nhưng có lẽ điều tôi tiếc nhất không phải là kiến thức hay sức khỏe tâm thần. Điều tôi tiếc nhất là một thứ tinh tế hơn và khó đo lường hơn: sự tự trọng tri thức.
Tự trọng tri thức là cảm giác xấu hổ khi bạn phát biểu về điều mình không hiểu. Là trách nhiệm bạn cảm thấy khi biết có người đang tin vào lời mình nói. Là thói quen kiểm tra lại trước khi chia sẻ, không phải vì luật lệ bắt buộc, mà vì đó là điều người tử tế làm.
Trong các cộng đồng internet thế hệ đầu, thứ này tồn tại tự nhiên. Danh tiếng của bạn trong cộng đồng là tài sản thực, được xây dựng qua tháng năm bằng chất lượng đóng góp, và có thể mất đi trong một cuộc tranh luận nếu bạn bị chứng minh là đã nói sai một cách cố tình. Không có cách nào xóa tài khoản và tạo cái mới với vài nghìn follower ngay ngày hôm sau. Danh tiếng là thứ duy nhất bạn có, và bạn giữ nó như giữ một thứ quý giá.
Nassim Nicholas Taleb, trong cuốn Skin in the Game, lập luận rằng lòng tin và trách nhiệm chỉ tồn tại thực sự khi người nói có “da thịt trong cuộc chơi”, tức là khi họ phải chịu hậu quả từ điều họ nói. Cấu trúc của mạng xã hội hiện đại loại bỏ hầu hết hậu quả đó. Bạn có thể đăng thông tin sai lên Facebook và nó được chia sẻ triệu lần trước khi ai kịp kiểm tra. Đến lúc fact-check xuất hiện, bài gốc đã làm xong việc của nó. Không có giá phải trả tương đương với thiệt hại gây ra.
Hậu quả là một nền văn hóa nơi bày tỏ ý kiến quan trọng hơn hiểu biết về điều mình bày tỏ ý kiến. Nơi tốc độ phản ứng được thưởng hơn chất lượng suy nghĩ. Nơi người đầu tiên bình luận về một sự kiện, dù sai, nhận được nhiều hiển thị hơn người suy nghĩ kỹ và trả lời sau vài giờ. Và vì vậy, dần dần, mà không qua một quyết định có ý thức nào, chúng ta bớt dần thói quen ngồi với một ý tưởng đủ lâu để thực sự hiểu nó.
Triết gia người Đức Jürgen Habermas có một khái niệm gọi là public sphere, tức không gian công cộng: một không gian lý tưởng nơi các công dân trao đổi lý lẽ, trình bày bằng chứng, và cùng nhau đạt đến sự hiểu biết chung về các vấn đề liên quan đến tất cả. Đây là nền tảng triết học của nền dân chủ, ý tưởng rằng quyết định chung nên được dựa trên lý trí chung chứ không phải quyền lực hay sức mạnh.
Internet thế hệ đầu là lần đầu tiên trong lịch sử loài người có thứ gì đó thực sự gần với không gian công cộng lý tưởng đó tồn tại ở quy mô lớn. Bất kỳ ai cũng có thể tham gia. Không ai bị phán xét vì xuất thân. Ý tưởng tốt có thể cạnh tranh bình đẳng với ý tưởng của người có địa vị. Một sinh viên năm nhất có thể tranh luận thắng một giáo sư nếu lý lẽ của họ tốt hơn, và không ai bị ai thấy kỳ lạ về điều đó.
Thuật toán cá nhân hóa đã phá hủy không gian đó theo cách triệt để nhất có thể: nó chia thực tại thành hàng triệu bong bóng riêng biệt, mỗi người sống trong một thế giới thông tin được định nghĩa bởi lịch sử click của chính họ. Khi hai người từ hai bong bóng khác nhau gặp nhau, họ không chỉ có ý kiến khác nhau về một vấn đề. Họ có thực tế khác nhau. Họ được tiếp xúc với những bộ sự kiện khác nhau, được nhấn mạnh theo những cách khác nhau, được diễn giải trong những khung tham chiếu khác nhau đến mức không còn nền tảng chung để tranh luận. Không phải không đồng ý, mà là không nói chuyện được với nhau.
Hannah Arendt, trong tác phẩm The Origins of Totalitarianism viết năm 1951, cảnh báo rằng kẻ thù nguy hiểm nhất của tư duy chính trị lành mạnh không phải là dối trá, mà là sự xóa nhòa ranh giới giữa thật và giả, khiến người ta không còn có thể phân biệt được nữa, khiến sự thật trở thành một quan điểm trong số nhiều quan điểm, và mọi quan điểm đều có giá trị như nhau. Bà viết điều đó về chủ nghĩa toàn trị. Nhưng đó cũng chính xác là điều đang xảy ra trong môi trường thông tin hiện tại, không phải do ai có ý định độc ác thiết kế, mà do cấu trúc khuyến khích của các nền tảng tự nhiên dẫn đến kết quả này như một hệ quả phụ không ai dự tính.
Tôi không muốn kết thúc bài này bằng một giải pháp gọn gàng. Không phải vì không có gì để nói, mà vì chính cái văn hóa “cho tôi giải pháp trong 3 điểm dễ nhớ” là một phần của vấn đề tôi đang nói đến.
Nhưng có một điều tôi muốn nói thẳng, dù nó không dễ nghe: chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên mà khả năng chú ý của con người, thứ quý giá nhất và không thể tái tạo nhất mà một người có, đang bị khai thác một cách có hệ thống bởi các công ty có mô hình kinh doanh không tương thích với sức khỏe tâm thần và tri thức của người dùng. Và phần lớn chúng ta đang trả tiền cho điều đó bằng cách cho đi thứ quý giá nhất mình có, hoàn toàn tự nguyện, thậm chí thích thú.
Heather Armstrong của blog Dooce, Paul Graham, Andrew Sullivan, Belle de Jour, Kris Carr, CGP Grey, tất cả đều có một điểm chung: họ viết như thể có ít nhất một người đọc xứng đáng với sự thật. Không phải viết để thu hút đại chúng. Viết để nói thật với ai đó có thể hiểu được. Và kỳ lạ thay, chính vì viết như vậy, họ tìm được người đọc thực sự, những người ở lại không phải vì thuật toán đẩy, mà vì họ tìm thấy thứ không ở đâu khác có.
Sách có mùi là vì giấy già đi, vì mực thấm vào từng thớ sợi, vì thời gian in dấu vào vật chất. Internet thế hệ đầu cũng có mùi đó, mùi của thứ được viết ra với sự quan tâm, với trách nhiệm, với niềm tin rằng chữ viết là thứ quan trọng. Rằng khi bạn viết một điều gì đó và gửi nó ra thế giới, bạn đang chịu trách nhiệm về nó.
Mùi đó không biến mất. Nó chỉ khó tìm hơn rất nhiều trong cái ồn ào của hiện tại.
Nhưng nó vẫn ở đó. Và những ai biết nó từng tồn tại sẽ không bao giờ thôi tìm kiếm nó.

Để lại một bình luận