Đế chế của người con từng trốn chạy - Gia Long
Năm 1783, có một thanh niên hai mươi mốt tuổi ngồi trên đảo Côn Lôn, xung quanh là tàn quân, sau lưng là biển, trước mặt cũng là biển. Toàn bộ gia tộc anh ta gần như đã bị giết sạch sáu năm trước ở Gia Định. Đất đai của tổ tiên anh ta, chín đời chúa gây dựng suốt hai trăm năm, đã mất sạch vào tay ba anh em nhà Tây Sơn. Anh ta vừa thua thêm một trận nữa, thua đến mức phải bỏ cả Phú Quốc mà chạy ra hòn đảo tù xa nhất của vịnh Thái Lan. Nếu lúc đó có ai đứng cạnh và nói rằng mười chín năm sau, người thanh niên này sẽ làm chủ một lãnh thổ trải từ Lạng Sơn đến Cà Mau, điều mà chưa một triều đại nào trong lịch sử Việt Nam làm được, và quân đội của ông ta sẽ khiến cả người Pháp lẫn người Anh phải gạt phương án xâm lược ra khỏi bàn tính, thì lời tiên tri đó nghe như chuyện tiếu lâm.
Vậy mà nó đã diễn ra. Và tôi nghĩ muốn hiểu nền kinh tế lẫn sức mạnh của triều đại Gia Long, phải bắt đầu từ chính con người ngồi trên hòn đảo năm đó, vì toàn bộ đế chế ông xây sau này, từ cách tổ chức ruộng đất đến cách khóa cửa thương mại, từ hệ thống thành lũy đến cách chia quyền cho công thần, đều mang dấu vân tay của hai mươi lăm năm chạy trốn, thua trận, và học lại từ đầu. Đế chế đó hùng mạnh theo ý nghĩa của một người từng mất tất cả sẽ xây dựng nghiêng nhiều về sự an toàn: chắc chắn, đa nghi, kiểm soát mọi thứ có thể kiểm soát. Và nó cũng sẽ suy yếu theo đúng những thứ đã từng làm nó thành công.
Tài sản khởi nghiệp: hai mươi lăm năm thất bại
Có một chi tiết trong tiểu sử Nguyễn Ánh mà tôi cho là quan trọng hơn mọi trận đánh: ông từng cho tháo rời một chiếc tàu châu Âu ra từng mảnh để xem người ta đóng nó như thế nào, rồi cho những người thợ của mình đóng lại một chiếc tương tự. Các ghi chép của những người Pháp phục vụ ông thời đó, như hồi ký của Michel Đức Chaigneau, mô tả một ông chúa tự tay giám sát xưởng đóng tàu, hỏi han kỹ sư về góc bắn của pháo đài, dậy từ sáng sớm và làm việc đến khuya. Đó là chân dung của một người học bằng cách mổ xẻ, và học vì sinh tồn chứ không phải vì tò mò tài tử.
Cái trường học đã đào tạo ra con người đó là chuỗi thất bại dài nhất mà một người sáng lập triều đại từng trải qua trong sử Việt. Năm 1777, mười lăm tuổi, chứng kiến chú và anh em bị Tây Sơn bắt giết ở Gia Định, bản thân trốn thoát trong đường tơ kẽ tóc. Từ đó đến 1788, ông chiếm lại Gia Định rồi mất, chiếm lại rồi lại mất, tổng cộng bị đánh bật khỏi vùng đất này bốn lần. Năm 1784, ông đi nước cờ tệ nhất đời mình: cầu viện Xiêm, dẫn mấy vạn quân Xiêm về Gia Định, để rồi Nguyễn Huệ nghiền nát đội quân đó ở Rạch Gầm Xoài Mút đầu năm 1785, và bản thân ông mang tiếng "cõng rắn cắn gà nhà" cho đến tận sách giáo khoa thế kỷ hai mươi. Sau trận đó ông lưu vong ở Bangkok, sống nhờ triều đình Xiêm, một ông hoàng không đất đai ăn đậu ở xứ người.
Nhưng chính giai đoạn nhục nhã đó lại là nơi ông tích lũy thứ vốn liếng quyết định. Ở Gia Định và trong những năm lưu lạc, ông nhìn thấy tận mắt sức mạnh của ba thứ mà triều đình Huế của tổ tiên ông chưa từng coi trọng đúng mức: mạng lưới thương nhân người Hoa kiểm soát dòng gạo và hàng hóa Nam Bộ, vũ khí và kỹ thuật phương Tây bán qua các thương cảng, và giá trị của một vùng đất mới khai phá chưa bị lệ làng trói buộc. Khi trở lại Gia Định lần cuối năm 1788 và lần này khi giữ được, ông biến vùng đất đó thành một cỗ máy chiến tranh: gạo Đồng Nai đổi lấy sắt, đồng, lưu huỳnh, súng ống; thợ thuyền được gom vào xưởng đóng tàu; một nhóm sĩ quan Pháp do giám mục Bá Đa Lộc chiêu mộ, vài chục người chứ chẳng phải đội quân viễn chinh nào, giúp huấn luyện pháo binh và xây thành kiểu Vauban (các hệ thống pháo đài hình ngôi sao do kỹ sư quân sự Pháp Sébastien Le Prestre de Vauban thiết kế vào thế kỷ XVII). Chiếc thành Gia Định bát quái mà Olivier de Puymanel góp tay thiết kế năm 1790 chính là phiên bản đầu tiên của thứ sau này phủ khắp đất nước.
Từ 1792 đến 1801, cứ đến mùa gió thuận là thủy quân Gia Định lại ngược ra đánh Quy Nhơn, người đương thời gọi là "giặc mùa". Trận Thị Nại năm 1801, nơi thủy quân của ông thiêu rụi hạm đội chủ lực Tây Sơn, là trận thủy chiến lớn bậc nhất lịch sử Việt Nam và là đòn kết liễu thực sự của cuộc nội chiến. Một năm sau, ông vào Thăng Long, và lần đầu tiên trong lịch sử, toàn bộ dải đất hình chữ S nằm dưới một chính quyền duy nhất.
Tôi dừng ở đây một chút để nói điều mà tôi nghĩ nhiều người bỏ qua: cái đế chế ra đời năm 1802 được xây bởi một người hiểu thương mại, hiểu công nghệ phương Tây, hiểu giá trị của dân di cư và người ngoại tộc hơn bất kỳ ông vua Việt nào trước đó. Dưới trướng ông có người Pháp làm quan, người Hoa Minh Hương giữ việc thuế khóa buôn bán, người Khmer, hàng tướng Tây Sơn, cựu thần nhà Lê, giáo dân Công giáo. Ông thực dụng đến lạnh lùng. Vậy mà chính con người đó, khi ngồi lên ngai vàng, lại lựa chọn đóng cửa. Nghịch lý này là chìa khóa của toàn bộ câu chuyện kinh tế phía dưới.
Dựng lại một đất nước từ sổ sách
Muốn đánh giá kinh tế thời Gia Long cho công bằng thì phải nhớ đến điểm xuất phát: năm 1802, Việt Nam vừa ra khỏi ba mươi năm nội chiến liên tục, và trước đó nữa là hai trăm năm chia đôi Đàng Trong Đàng Ngoài với hai hệ thống tiền tệ, thuế khóa, đo lường khác nhau. Ruộng bỏ hoang, dân phiêu tán, sổ sách cháy mất. Nhiệm vụ số một của triều đình mới không phải là làm giàu. Nhiệm vụ số một là biết mình đang có cái gì.
Và ở việc này, Gia Long làm một chuyện mà tôi, với con mắt của người tự làm ăn nhỏ lẻ, phải gọi đúng tên: ông chạy một cuộc kiểm kê tài sản toàn quốc. Công trình địa bạ triều Nguyễn, khởi động từ thời ông và hoàn thiện dần qua thời Minh Mạng, ghi lại từng thửa ruộng, chủ sở hữu, hạng đất, diện tích của hàng chục ngàn làng xã. Đến hôm nay, kho địa bạ này vẫn là bộ hồ sơ ruộng đất chi tiết nhất của toàn bộ lịch sử phong kiến Việt Nam, thứ mà các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đình Đầu đã dành cả đời để khai thác. Song song với nó là sổ đinh kiểm kê nhân khẩu, là thống nhất tiền tệ qua đồng Gia Long thông bảo, thống nhất cân đong đo lường, và lần đầu tiên sau hai thế kỷ, một chế độ thuế áp dụng chung cho cả nước với ba trụ cột: thuế điền đánh vào ruộng, thuế thân đánh vào suất đinh, và lao dịch.
Trên cái nền sổ sách khủng khiếp đó, chính sách nông nghiệp vận hành theo hướng mở đất. Nhà nước khuyến khích khẩn hoang bằng cách cấp trâu bò nông cụ, miễn thuế những năm đầu. Ở vùng biên Tây Nam, mô hình đồn điền cho binh lính vừa đóng giữ vừa cày cấy biến quốc phòng và sản xuất thành một. Và rồi tới hai công trình mà tôi cho là ấn tượng nhất của thời kỳ này: kênh Thoại Hà đào năm 1818 nối Long Xuyên ra Rạch Giá, và kênh Vĩnh Tế khởi công năm 1819, chạy dọc biên giới với Chân Lạp từ Châu Đốc ra Hà Tiên, dài gần chín chục cây số, huy động hàng vạn dân phu và binh lính người Việt lẫn người Khmer, đào ròng rã năm năm mới xong dưới thời Minh Mạng. Đây là hạ tầng lưỡng dụng đúng nghĩa: vừa là thủy lợi và đường giao thương cho cả vùng tứ giác Long Xuyên, vừa là chiến hào và tuyến tiếp vận quân sự án ngữ biên giới Tây Nam. Ở Đông Nam Á đầu thế kỷ mười chín, không có dự án hạ tầng nào tầm cỡ hơn.
Kết quả tất nhiên là nhìn thấy được: Nam Bộ trong nửa đầu thế kỷ mười chín chuyển hẳn thành vựa lúa có thặng dư xuất khẩu. Gạo Gia Định theo thuyền người Hoa đi Trung Quốc, đi Manila, và sau 1819 là đi Singapore. John White, một thương nhân Mỹ ghé Sài Gòn năm 1819, để lại một tập du ký mô tả cảnh trên bến dưới thuyền, xưởng đóng tàu quy mô lớn, và một bộ máy quan lại mà ông ta vừa nể vừa bực mình vì thủ tục. Cỗ máy nông nghiệp mà Gia Long dựng lại vận hành thật, nuôi được một dân số ước chừng bảy tám triệu người, nuôi được một quân đội thường trực lớn, và nuôi được những công trình ngốn của cải khủng khiếp như kinh thành Huế được xây dựng từ năm 1805.
Nhưng phải nói luôn mặt trái của nó, vì nó cũng nằm trong chính những công trình đó. Gánh lao dịch thời Gia Long nặng. Xây kinh thành, đào kênh, đắp đường thiên lý xuyên Bắc Nam với hệ thống dịch trạm, tất cả đều đè lên vai những người dân phu. Sử nhà Nguyễn tự ghi nhận hàng loạt cuộc nổi dậy lớn nhỏ ngay trong đời Gia Long, và con số đó phình to lên qua các đời sau, tổng cộng hàng trăm cuộc nổi dậy trong nửa đầu thế kỷ. Một nền kinh tế nông nghiệp được quản trị chặt chẽ có thể tạo ra ổn định và công trình, nhưng cái giá của nó tính bằng mồ hôi của đúng tầng lớp không có tiếng nói nào trong xã hội.
Người hiểu thương mại nhất lại là người khóa cửa
Đây là phần tôi muốn viết kỹ nhất, vì nó hàm chứa nghịch lý trung tâm của cả triều đại.
Nguyễn Ánh sống sót qua thập niên 1780 và thắng trân ở thập niên 1790 nhờ thương mại. Ông biết rõ hơn ai hết rằng gạo Nam Bộ có thể đổi được thuốc súng, rằng thương nhân người Hoa là mạch máu, rằng một chiếc tàu Tây mua về tháo ra học được nhiều hơn mười năm đóng thuyền theo lối cũ. Nếu có một ông vua Việt Nam nào đáng lẽ phải trở thành người mở cửa thương mại, thì đó phải chính là ông.
Đáng tiếc là ông đã chọn ngược lại. Sau 1802, ngoại thương bị đưa vào khuôn khổ: tàu phương Tây chỉ được buôn bán ở các cảng chỉ định, nhà nước giữ độc quyền những mặt hàng chiến lược như kim loại, vũ khí, gỗ quý và một số sản vật giá trị cao, thương nhân nước ngoài thì không được lập thương điếm thường trú. Năm 1804, khi Công ty Đông Ấn Anh cử phái bộ Roberts đến xin thiết lập quan hệ buôn bán chính thức, Gia Long từ chối thẳng thừng. Người Pháp cũ như Chaigneau và Vannier vẫn được trọng đãi làm quan tại triều đình, nhưng đó chỉ là ơn nghĩa cá nhân. Về mặt thể chế, ông không ký bất cứ một hiệp ước nào, không nhượng một tấc đất nào, không cho mở một lãnh sự quán nào.
Cái logic đằng sau lựa chọn này không hề ngu ngốc, và tôi nghĩ gọi nó là "bế quan tỏa cảng mù quáng" như sách vở một thời là đã nhận định khá là chủ quan về con người ông. Ở thời điểm đó, Gia Long nhìn sang Ấn Độ và thấy Công ty Đông Ấn Anh đã nuốt cả tiểu lục địa bằng cách nào: bắt đầu từ một thương điếm, rồi một đội bảo vệ thương điếm, rồi một hiệp ước, rồi một tỉnh thành. Bài học ông rút ra cho bản thân rất rõ ràng: không cho người phương Tây bất kỳ chỗ đứng cố định nào trên đất mình, thì họ không có điểm tựa để bẩy, chúng ta không thể lấy góc nhìn hiện tại để đánh giá sai lầm của ông 200 năm trước, điều đó hoàn toàn không công bằng. Ngay cả với nước Pháp, khi triều đình Bourbon phục hưng sau 1815 đánh tiếng về những "quyền lợi" từ hiệp ước Versailles 1787, câu trả lời của triều đình Huế lạnh lùng và chuẩn mực về mặt pháp lý: hiệp ước đó phía Pháp chưa từng thực hiện nghĩa vụ, nên coi như không tồn tại. Trong ngắn hạn thì chiến lược này đã thắng tuyệt đối. Suốt đời Gia Long, không một thế lực phương Tây nào có được cái cớ hay cái chỗ đứng để can thiệp vào đất nước.
Vấn đề nằm ở cái giá dài hạn, và cái giá này người ta chỉ nhìn thấy khi đặt Việt Nam bên cạnh Xiêm. Cùng thời điểm đó, triều Chakri ở Bangkok chọn hướng ngược lại: buôn bán rộng với người Hoa và phương Tây, rồi ký hiệp ước Burney với Anh năm 1826, hiệp ước Bowring năm 1855, chấp nhận mở cửa để đổi lấy tiền, kỹ thuật, và quan trọng nhất là kinh nghiệm ngoại giao với các cường quốc. Nửa thế kỷ sau, chính cái vốn liếng đó cho Xiêm đủ khôn khéo và đủ giá trị với cả Anh lẫn Pháp để lách qua thời thực dân mà không mất nước. Còn Việt Nam, khi Singapore ra đời năm 1819 và hút toàn bộ dòng chảy thương mại Đông Nam Á về một đầu mối tự do thuế quan, thì đã tự đặt mình bên lề đúng lúc khu vực này bước vào giai đoạn bùng nổ, nói dễ nghe hơn là bị cho ra rìa.
Hệ quả sâu hơn nằm ở cấu trúc xã hội. Chính sách độc quyền và kiểm soát bóp chết khả năng hình thành một tầng lớp thương nhân bản địa đủ lớn. Thợ giỏi bị trưng tập vào các công xưởng quan doanh để đóng tàu, đúc súng, đúc tiền cho triều đình, thay vì được tự do làm ăn và tích lũy. Thương mại đường biển thì nằm phần lớn trong tay các bang hội người Hoa hoạt động dưới sự cho phép và thuế khóa của nhà nước. Không có tích lũy tư bản tư nhân, không có sức ép từ một giai tầng đô thị đòi hỏi thể chế mới, nền kinh tế Việt Nam đầu thế kỷ mười chín là một cỗ máy nông nghiệp quân sự do nhà nước tổ chức và cầm lái toàn phần.
Tôi hay nhìn các nền kinh tế tiền hiện đại qua cặp khái niệm tăng trưởng ngoại diên và tăng trưởng nội hàm (extensive và intensive). Extensive là lớn lên bằng cách thêm đầu vào: thêm đất khai hoang, thêm dân, thêm thóc. Intensive là lớn lên bằng cách mỗi đơn vị đầu vào tạo ra nhiều giá trị hơn: năng suất, công nghệ, tổ chức. Nhà Thanh thế kỷ mười tám là ca kinh điển của extensive thuần túy, dân số nhân ba mà đời sống từng người không khá lên. Kinh tế Gia Long là một phiên bản Việt Nam của đúng mô hình đó: mở đất Nam Bộ, tăng dân, tăng diện tích canh tác, tất cả đều thật và đều đáng nể, nhưng không tồn tại bất kỳ cơ chế nào biến của cải thành năng suất, biến thặng dư thành công nghệ, biến thương nhân thành động lực. Cỗ máy chỉ biết to ra chứ không hề tốt lên. Năm 1820 điều này chưa phải vấn đề nhưng cho đến năm 1858 nó lại là tất cả vấn đề.
Quyền lực: một liên minh đội lốt vương triều
Người ta hay hình dung nhà Nguyễn là bộ máy chuyên chế tập quyền sắt đá ngay từ đầu. Hình dung đó đúng với nhà Nguyễn của Minh Mạng. Còn nhà nước mà Gia Long thực sự vận hành trong mười tám năm là một thứ khác hẳn, và thú thật, càng nhìn kỹ tôi càng thấy nó giống một tập đoàn vừa qua giai đoạn khởi nghiệp: người sáng lập nắm đại cục, nhưng các cộng sự đã vào sinh ra tử thì mỗi người cầm một vùng với quyền tự quyết rất rộng, hơn mức cần thiết.
Cấu trúc lãnh thổ chia ba. Triều đình Huế trực tiếp cai trị dải miền Trung. Phía Bắc, mười một trấn gom thành Bắc Thành dưới quyền một Tổng trấn. Phía Nam, năm trấn gom thành Gia Định Thành dưới một Tổng trấn khác. Hai chức Tổng trấn này là phó vương đúng nghĩa: tự bổ nhiệm quan lại cấp dưới, tự xử án, tự thu thuế, nắm quân đội trong vùng. Nguyễn Văn Thành trấn Bắc, và ở phía Nam, sau này là Lê Văn Duyệt, viên hoạn quan võ tướng mà uy quyền ở Gia Định lớn đến mức dân chúng gọi là Ông Lớn Thượng, người dám tiền trảm hậu tấu và triều đình cũng phải nhường nhịn. Gia Long chấp nhận thế cờ này vì hai lý do rất thực tế. Bắc Hà vừa mới về tay ông, đầy cựu thần nhà Lê còn hoài vọng chủ cũ, cần một bàn tay đủ mạnh và đủ linh hoạt tại chỗ thay vì mọi việc phải chờ chiếu chỉ từ Huế đi ngựa trạm mất cả tuần lễ. Và các đại công thần đã theo ông từ thuở trốn chạy Côn Lôn thì phải được trả công xứng đáng, vì quyền lực của ông, xét đến gốc, là quyền lực của một thủ lĩnh liên minh chiến thắng chứ chưa phải của một hoàng đế quan liêu có bộ máy tự thân vận hành.
Nhưng trong lúc chia quyền theo chiều ngang, ông lại khóa rất chặt theo chiều dọc. Ba cái "không" nổi tiếng của triều Gia Long: không đặt Tể tướng, không lấy đỗ Trạng nguyên, không phong tước vương cho người ngoài hoàng tộc còn sống, cộng thêm việc không lập Hoàng hậu khi tại vị. Đọc kỹ thì thấy cả bốn thứ đều nhắm vào một nỗi sợ duy nhất: sợ xuất hiện một cực quyền lực thay thế, kiểu chúa Trịnh từng lấn át vua Lê suốt hai trăm năm. Người từng chứng kiến gia tộc mình bị diệt vong vì bại trận trong trò chơi quyền lực sẽ không bao giờ để trò chơi đó có bất cứ người nào chơi lại lần thứ hai. Bộ Hoàng Việt luật lệ ban hành năm 1815, mà đời sau quen gọi là luật Gia Long, thống nhất pháp luật cả nước lần đầu tiên sau hai thế kỷ, và dù chịu ảnh hưởng đậm của luật Đại Thanh, chức năng chính trị của nó rất rõ: một quốc gia, một bộ luật, một nguồn quyền lực.
Sự mong manh của thế cân bằng này lộ ra ngay cuối đời ông, trong vụ án đau đầu nhất triều đại. Nguyễn Văn Thành, đệ nhất công thần, người từng cùng ông nếm mật nằm gai từ những ngày Gia Định, bị tố chỉ vì bài thơ của con trai có ý mưu phản. Năm 1817, Thành phải uống thuốc độc chết. Án oan hay không, sử gia còn phải bàn, tôi cũng không đủ thông tin đủ kiếm chứng để nói nhiều về nó, nhưng mà thông điệp chính trị thì không ai đọc sai được: giai đoạn liên minh đã hết. Minh Mạng sau này chỉ hoàn tất cái logic mà cha ông đã khởi động, kiên nhẫn chờ Lê Văn Duyệt chết năm 1832 rồi xóa sổ cả hai Thành, chia cả nước thành ba mươi mốt tỉnh trực thuộc trung ương. Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi bùng ra ngay sau đó ở thành Phiên An, cầm cự suốt hai năm trời, chính là cơn co giật cuối cùng của mô hình phân quyền kiểu Gia Long, và cách Minh Mạng dập nó, chém hàng ngàn người ở đồng mả ngụy, cho thấy nhà nước tập quyền mới tàn khốc đến mức nào với chính di sản của người sáng lập.
Còn một mặt trận quyền lực nữa, vô hình hơn: tính chính danh. Gia Long lên ngôi không nhờ phò Lê, không nhờ hào quang khởi nghĩa nông dân như Tây Sơn, mà nhờ quyền kế thừa dòng chúa Nguyễn cộng với sự thật trần trụi là ông thắng. Để bù cho cái gốc chính danh mỏng manh đó, ông cho đầu tư mạnh vào nghi lễ Nho giáo, tôn miếu, và đặc biệt là sử sách, đặt nền cho Quốc sử quán nơi sau này soạn Đại Nam thực lục. Trong bộ sử đó, Tây Sơn là "ngụy", hai mươi lăm năm lưu lạc của ông là thiên mệnh thử thách chân chúa. Người thắng viết sử, chuyện của muôn đời. Nhưng quyền lực mềm này có giới hạn địa lý rất rõ: nó thấm ở miền Trung và miền Nam, còn Bắc Hà thì lạnh nhạt với nhà Nguyễn rất lâu, và bản đồ các cuộc nổi dậy suốt triều Nguyễn dày đặc nhất ở phía Bắc lại chính là ống nhiệt kế đo được độ lạnh nhạt đó.
Cách trả thù Tây Sơn năm 1802 cũng phải được đặt lên bàn cân này. Quật mộ Nguyễn Nhạc Nguyễn Huệ, hành hình Quang Toản bằng ngũ tượng phanh thây, voi giày nữ tướng Bùi Thị Xuân cùng con gái. Tôi từng nghĩ đây là cơn cuồng nộ của người mang mối thù diệt tộc, và chắc chắn có phần đó. Nhưng nhìn từ góc quyền lực thì nó còn là một nghi thức chính trị được dàn dựng công phu nhằm xóa sổ tính chính danh của Tây Sơn đến tận xương cốt, theo đúng nghĩa đen. Hiểu được logic của nó không có nghĩa là biện minh cho nó. Một triều đại khai sinh bằng màn trình diễn bạo lực cỡ đó đã tự nói trước với thần dân rằng nó sẽ cai trị bằng gì khi bị thách thức.
Ván cờ khu vực: cường quốc thứ hai của bán đảo
Bàn cờ Đông Nam Á lục địa đầu thế kỷ mười chín gọn trong một câu: hai đế chế đang lên là Việt Nam nhà Nguyễn và Xiêm nhà Chakri, kẹp giữa là các vùng đệm Campuchia và Lào, phía trên là cái bóng danh nghĩa của nhà Thanh, ngoài biển là cái bóng đang lớn dần của Anh và Pháp.
Với nhà Thanh, Gia Long xử lý theo kiểu chi phí tối thiểu, theo tôi là cực kì khôn khéo. Xin phong ngay năm 1802, nhận danh nghĩa triều cống, vài năm một lần dâng sản vật, đổi lại được buôn bán và được yên hoàn toàn mặt Bắc. Câu chuyện quốc hiệu là ví dụ kinh điển về mặc cả kiểu Gia Long: Huế xin tên Nam Việt, Bắc Kinh giật mình vì cái tên đó gợi nhớ lại nước Nam Việt của Triệu Đà từng ôm cả Lưỡng Quảng, nên đảo lại thành Việt Nam. Gia Long nhận luôn, vì thứ ông cần là sự công nhận chứ đâu phải cần con chữ. Năm 1804, quốc hiệu Việt Nam chính thức ra đời, và tồn tại đến hôm nay. Suốt triều đại của ông, biên giới phía Bắc im phăng phắc, một điều kiện xa xỉ mà hiếm triều đại Việt Nam nào có được ngay từ ngày đầu.
Với Xiêm, quan hệ tinh tế hơn nhiều. Rama I từng là ân nhân cưu mang ông thời lưu vong, nên bề mặt hai triều đình giữ lễ anh em. Bên dưới lớp lễ nghĩa đó là cuộc cạnh tranh trực diện giành ảnh hưởng ở Campuchia và Lào. Nước cờ lớn nhất của Gia Long ở đây diễn ra khoảng 1811 đến 1813: nội bộ hoàng gia Khmer lục đục, vua Ang Chan II thân Việt bị các em thân Xiêm ép, chạy sang cầu cứu Gia Định. Gia Long sai Lê Văn Duyệt đem quân hộ tống Ang Chan về ngôi ở Oudong, cho quân đóng giữ Nam Vang. Xiêm nuốt giận chấp nhận thế "hai chủ", Campuchia cống nạp cả Bangkok lẫn Huế nhưng trọng tâm nghiêng hẳn về phía Việt. Một thắng lợi địa chính trị trọn vẹn mà không tốn một trận đánh lớn nào cả, chỉ thuần bằng thời cơ và sức răn đe. Ở hướng Lào, các tiểu quốc Vientiane, Luang Prabang, Xiengkhuang cũng triều cống Huế song song với Bangkok theo đúng kiểu một nước nhỏ kẹp giữa hai nước lớn.
Tấm bản đồ ảnh hưởng đó cho thấy vị thế thật của Việt Nam thời Gia Long: cường quốc bậc nhất bán đảo Đông Dương, ngang cơ và đang thắng thế trước Xiêm trong ván cờ vùng đệm. Đời Minh Mạng đẩy logic này đến cực đại, sáp nhập hẳn Campuchia thành Trấn Tây Thành, mở chiến tranh với Xiêm hai đợt trong thập niên 1830 và 1840, và lãnh thổ đế chế đạt đỉnh, lớn hơn Việt Nam hiện tại. Nhưng chính đoạn cực đại đó lại phơi ra sự giới hạn: cai trị trực tiếp Campuchia hóa ra là gánh nặng, dân Khmer nổi dậy liên miên chống chính sách đồng hóa, cuối cùng Huế phải rút về thế bảo hộ chung với Xiêm. Bành trướng kiểu extensive, thêm đất thêm dân lại một lần nữa chạm phải trần của chính nó.
Riêng với phương Tây, công thức của Gia Long nhất quán đến cùng: thân thiện cá nhân, khước từ thể chế. Trọng đãi từng con người cụ thể đã giúp mình, trả nghĩa Bá Đa Lộc bằng một đám tang vương giả, nhưng tuyệt đối không cho bất kỳ quốc gia phương Tây nào một văn bản, một mảnh đất, một chỗ đứng. Trong khuôn khổ thế giới mà ông biết, đây là chính sách gần như hoàn hảo. Cái khuôn khổ đó chỉ có một nhược điểm là nó sắp hết hạn sử dụng và sắp không hợp thời nữa.
Sức mạnh quân sự: mười tám năm không ai dám thử thách
Có một sự thật thống kê ít người để ý: suốt mười tám năm Gia Long trị vì, không một thế lực ngoại bang nào xâm phạm Việt Nam. Không phải vì thiếu kẻ muốn. Vì bài toán chi phí quá đắt đỏ nếu có gan đó.
Hãy điểm lại ông có gì trong tay. Một quân đội thường trực trên dưới mười mấy vạn người, tổ chức và huấn luyện theo lối lai Đông Tây, tỷ lệ trang bị súng hỏa mai thuộc hàng cao nhất khu vực. Một lực lượng thủy quân dày dạn nhất Đông Nam Á, tôi luyện qua mười năm "giặc mùa" và trận Thị Nại, với những chiến hạm đóng theo kỹ thuật châu Âu bọc đồng đáy, sản phẩm trực tiếp của cái xưởng nơi ông từng cho tháo rời tàu bè phương Tây ra học hỏi. Và xương sống của toàn bộ hệ thống phòng thủ: mạng lưới thành Vauban. Từ kinh thành Huế đồ sộ xây từ 1805, đến thành Bát Quái Gia Định, thành Bắc Thành, rồi lan ra hàng loạt tỉnh thành, tất cả theo thiết kế pháo đài hình sao với các pháo đài góc bắn chéo yểm hộ nhau, tinh hoa công sự châu Âu thế kỷ mười tám do nhóm sĩ quan Pháp truyền lại và người Việt tự nhân rộng. Đầu thế kỷ mười chín, đây là mạng lưới công sự kiểu phương Tây dày đặc nhất châu Á bên ngoài các thuộc địa của chính người châu Âu. Một số nhà nghiên cứu quân sự phương Tây đánh giá quân đội Việt Nam giai đoạn này thuộc loại hiện đại hóa nhất châu Á, đi trước Nhật Bản nhiều thập kỷ.
Phép thử tốt nhất cho một hệ thống răn đe là hỏi kẻ có ý định tấn công mình. Các báo cáo và thư từ của giới chức Pháp thời Bourbon phục hưng khi cân nhắc "phương án Cochinchine" đều đi đến kết luận đại ý rằng đụng vào Việt Nam của Gia Long là phi thực tế với lực lượng Pháp có thể triển khai ở châu Á lúc đó. Người Anh thăm dò năm 1804, bị từ chối, và cũng thôi. Nghĩa là sức răn đe đã vận hành đúng chức năng của nó. Cuộc xâm lược không xảy ra chính là bằng chứng của sức mạnh, dù loại bằng chứng này vô hình trong sử sách, vì cái không xảy ra thì không có trận đánh nào để mà ghi chép lại, và cũng ít tài liệu tổng hợp về mặt này của triều địa Gia Long.
Giá mà câu chuyện dừng ở đây thì đã quá tốt đẹp. Nhưng người viết sử tử tế đã phải đi tiếp đến năm 1858, khi liên quân Pháp & Tây Ban Nha nổ súng vào Đà Nẵng, và hỏi thẳng: cái cỗ máy tưởng chừng vững mạnh, chính nó đã từng khiến chính người Pháp chùn tay, vì sao bốn mươi năm sau lại thua thảm hại nhanh đến như vậy? Thành Gia Định, viên ngọc của hệ thống Vauban, thất thủ năm 1859 chỉ sau vài giờ pháo kích.
Câu trả lời nằm ở ba giả định ngầm mà toàn bộ kiến trúc quốc phòng Gia Long đứng trên đó. Giả định một: kẻ thù chính đến từ đất liền, hoặc là Xiêm hoặc nội loạn, hoặc hệ thống chỉ được tối ưu cho phòng ngự công sự và thủy chiến ven bờ. Giả định thứ hai: công nghệ quân sự thay đổi chậm chạp, vẫn giữ tư duy cái gì hiện đại năm 1800 sẽ còn dùng tốt nhiều thập kỷ, như nó vẫn thế suốt mấy trăm năm trước. Giả định ba: nhà nước độc quyền nắm công nghệ quân sự là đủ, không cần một nền công nghiệp và thương mại dân sự làm bệ đỡ.
Cả ba giả định đều đúng vào năm 1820. Cả ba đều sai vào năm 1858. Cách mạng công nghiệp đã rút chu kỳ đổi mới vũ khí từ hàng thế kỷ xuống còn hàng thập kỷ. Tàu chiến hơi nước không cần chờ gió, vô hiệu hóa toàn bộ kinh nghiệm thủy văn "giặc mùa" của thủy quân Việt. Pháo nòng xoắn bắn xa và chính xác gấp bội biến thành Vauban từ pháo đài thành mục tiêu tập bắn. Súng trường nạp hậu đấu với hỏa mai là chênh lệch nhau nguyên cả một kỷ nguyên. Và điểm chí tử nhất: quân đội Gia Long mạnh vì đích thân ông liên tục cập nhật, mua, học, tháo ra lắp lại. Năng lực đó là năng lực của một con người, chưa bao giờ được chuyển hóa thành thể chế. Không có thương mại mở để dòng công nghệ tự chảy vào. Không có tầng lớp kỹ nghệ dân sự để nhà nước dựa vào. Các công xưởng quan doanh, như mọi độc quyền nhà nước trong lịch sử, trì trệ dần theo đúng quy luật. Khi ông mất năm 1820, cỗ máy ngừng học tập và phát triển. Sự tụt hậu sau đó không phải tai nạn, nó chỉ là hàm số của một mô hình.
Cộng vào đó một vết nứt xã hội mà chính Gia Long góp tay tạo ra dù ông không chủ ý. Với đạo Công giáo, ông giữ thái độ khoan dung suốt đời, phần vì ơn nghĩa Bá Đa Lộc, phần vì thực dụng. Nhưng ở quyết định hệ trọng nhất, chọn người kế vị, ông gạt dòng của hoàng tử Cảnh, người con cả từng sang Pháp và gắn với giới truyền giáo, để chọn hoàng tử Đảm, tức Minh Mạng, một người Nho giáo chính thống và cứng rắn. Các đợt cấm đạo khốc liệt từ Minh Mạng đến Tự Đức, với hàng vạn giáo dân bị giết, vừa trao cho Pháp cái cớ "bảo vệ giáo dân" hoàn hảo, vừa đẩy một bộ phận dân chúng ra ngoài khối đoàn kết đúng vào lúc quốc gia cần nó nhất. Đến khi tiếng pháo Đà Nẵng vang lên, Việt Nam đối mặt một kẻ thù công nghiệp bằng quân đội đóng băng ở trình độ 1810, ngân khố nông nghiệp, xã hội nứt rạn tôn giáo, và một triều đình mà cái năng lực học hỏi thực dụng của người sáng lập đã bị con cháu thay bằng giáo điều.
Người thắng ván cờ cuối của thế giới cũ
Đặt bốn mảng cạnh nhau, kinh tế, quyền lực, địa chính trị, quân sự, tôi thấy chúng ghép thành một hình khối nhất quán đến lạ lùng. Gia Long đã xây dựng một cỗ máy tối ưu hóa cho hai mục tiêu: ổn định bên trong và răn đe bên ngoài, trong khuôn khổ trật tự Đông Á cũ. Đo bằng thước đo của chính nó, cỗ máy đó thành công gần như trọn vẹn. Đất nước thống nhất lần đầu tiên trong lịch sử theo đúng hình hài hôm nay. Nông nghiệp phục hồi, Nam Bộ thành vựa lúa, địa bạ và luật pháp thống nhất. Vị thế khu vực chỉ dưới không ai, ngang Xiêm và đang lấn Xiêm. Mười tám năm không một kẻ nào dám động binh. Quốc hiệu Việt Nam, con đường thiên lý, những con kênh biên giới, việc xác lập chủ quyền được tổ chức bài bản trên quần đảo Hoàng Sa qua các đội thuyền được sai phái đo đạc, tất cả còn nằm trong cuộc sống của chúng ta đến tận bây giờ.
Và cũng chính cỗ máy đó, đo bằng thước của thế kỷ kế tiếp, chứa sẵn mọi mầm mống của thất bại. Thương mại bị khóa để đổi lấy an toàn, và cùng với nó là con đường tích lũy tư bản, tầng lớp thương nhân, dòng chảy công nghệ. Quyền lực được dồn về một mối để trừ hậu họa quyền thần, và cùng với nó là mọi không gian cho sáng kiến từ bên dưới. Quốc phòng dựa vào những gì hiện đại nhất của năm 1800, và không có cơ chế nào bắt nó phải hiện đại theo năm tháng. Từng lựa chọn, đứng riêng, đều hợp lý đến mức khó cãi lại trong hoàn cảnh của nó. Cộng lại, chúng lát con đường đi xuống cho ba đời cháu chắt.
Trách Gia Long không nhìn thấy 1858 thì có phần bất công. Năm 1820, nhà Thanh với ba trăm triệu dân và niềm tự tin thiên triều còn chưa mường tượng nổi Chiến tranh Nha phiến sẽ giáng xuống mình hai mươi năm sau. Không ai ở châu Á lúc đó đọc được cái tốc độ mà cách mạng công nghiệp sắp áp đặt lên thế giới. Nhưng ghi nhận sòng phẳng rằng những viên gạch hợp lý của ông đã xây nên bức tường mà con cháu ông không trèo qua nổi, thì đó là việc của lịch sử, và của bất kỳ ai hôm nay đang trên đường xây dựng một hệ thống và tin rằng thứ đang chạy tốt sẽ chạy tốt mãi.
Tôi cứ nghĩ về chiếc tàu Tây bị tháo rời ở xưởng Gia Định năm nào. Một ông chúa lưu vong, thua nhiều hơn thắng, đứng nhìn người thợ của mình gỡ từng tấm ván, từng khớp nối, để hiểu cho bằng được vì sao thứ này đi biển giỏi hơn thuyền của cha ông. Đó có lẽ là khoảnh khắc đẹp nhất của cả triều đại Gia Long, đẹp hơn lễ đăng quang, đẹp hơn ngày vào Thăng Long. Bi kịch của nhà Nguyễn gói gọn trong một câu: sau khi ông mất, đã không còn ai tháo bất kì con tàu nào ra để học hỏi nữa rồi.
Nguồn tham khảo
Bài viết tổng hợp và diễn giải từ các nguồn chính sau:
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Chính biên, đệ nhất kỷ), bản dịch Viện Sử học, NXB Giáo Dục.
- Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, 1920.
- Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử nội chiến ở Việt Nam 1771–1802, Sài Gòn 1973, tái bản NXB Tri Thức.
- Nguyễn Đình Đầu, các công trình nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn (Nam Kỳ lục tỉnh và các trấn).
- Choi Byung Wook, Southern Vietnam under the Reign of Minh Mạng (1820–1841): Central Policies and Local Response, Cornell SEAP, 2004.
- Alexander Woodside, Vietnam and the Chinese Model: A Comparative Study of Vietnamese and Chinese Government in the First Half of the Nineteenth Century, Harvard University Press, 1971.
- Keith W. Taylor, A History of the Vietnamese, Cambridge University Press, 2013.
- Li Tana, Nguyễn Cochinchina: Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries, Cornell SEAP, 1998.
- George Dutton, The Tây Sơn Uprising: Society and Rebellion in Eighteenth-Century Vietnam, University of Hawai'i Press, 2006.
- Frédéric Mantienne, Monseigneur Pigneau de Béhaine và các nghiên cứu về chuyển giao kỹ thuật quân sự Pháp sang Đại Việt cuối thế kỷ 18.
- Michel Đức Chaigneau, Souvenirs de Huế, Paris, 1867.
- John White, A Voyage to Cochin China, London, 1824.
- Kỷ yếu hội thảo khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, Thanh Hóa, 10/2008.
- Wynn Wilcox (ed.), Vietnam and the West: New Approaches, Cornell SEAP, 2010.
