Tôi học lịch sử suốt mười hai năm trong những ngôi trường mà tường vôi bong tróc và quạt trần quay chậm như chính thời gian của thập niên 1990 và 2000 ở Sài Gòn. Sách giáo khoa lịch sử của chúng tôi được in trên giấy vàng ố, chữ mực đôi chỗ nhòe, và những trang viết về giai đoạn trước năm 1975 luôn có một giọng điệu đặc biệt mà đứa trẻ nào cũng cảm nhận được dù không đủ ngôn ngữ để mô tả: giọng của người kể chuyện đã biết trước kết cục và đang sắp xếp mọi chi tiết để kết cục đó trở nên tất yếu và chính đáng. Tôi không đánh giá những cuốn sách đó, cũng không trách những thầy cô đã dạy từ chúng với sự tận tụy thực sự, vì lịch sử được viết bởi người chiến thắng là một quy luật cũ đến mức đã trở thành sáo ngữ, và sáo ngữ thì thường chứa đựng một sự thật mà người ta đã thôi tranh cãi vì không còn ai tìm thấy điểm mới để phản bác. Nhưng song song với những trang sách giáo khoa đó, tuổi thơ và thanh xuân của tôi còn được tắm trong một thứ khác: những câu chuyện, những thứ được thì thầm trong bếp, được kể nửa chừng rồi dừng lại khi có người lạ bước vào, được nghe từ những người già ngồi uống cà phê buổi sáng ở đầu hẻm với giọng trầm xuống khi nhắc đến những cái tên địa danh hay những năm tháng cụ thể. Tôi nghe từ những người đã từng ở phía này và cả phía kia của một cuộc chiến mà thế hệ tôi không trực tiếp sống qua nhưng thừa hưởng toàn bộ hậu quả và di sản của nó. Những câu chuyện đó không nhất quán với nhau, đôi khi mâu thuẫn nhau hoàn toàn, và cái giá trị thực sự của chúng không phải là ở sự chính xác của từng chi tiết mà là ở chỗ chúng nhắc nhở tôi rằng lịch sử luôn có nhiều hơn một lớp và nhiều hơn một người kể.
Rồi tôi lớn lên, tự đọc, tự tìm hiểu lấy, từ những tài liệu giải mật của chính phủ Mỹ được số hóa trên internet đến hồi ký của các tướng lĩnh và quan chức từ cả hai phía, từ những nghiên cứu kinh tế học của các học giả phương Tây đến những phân tích của các nhà nghiên cứu người Việt ở hải ngoại, từ những tập hồ sơ lưu trữ đến những cuốn sách mà bìa gáy đã sờn vì được chuyền tay qua nhiều thế hệ trong những tủ sách gia đình. Không phải tôi tìm kiếm một phiên bản lịch sử nào để thay thế phiên bản đã được dạy ở trường, mà tôi tìm kiếm cái thứ nằm bên dưới tất cả các phiên bản đó: những con số, những cấu trúc, những cơ chế vận hành thực sự của một xã hội và một nền kinh tế mà sự tồn tại và sụp đổ của nó vẫn còn đang định hình cuộc sống của hàng chục triệu người cho đến tận hôm nay. Bài viết này được viết từ của một người con của Sài Gòn sinh sau năm 1975, có nghĩa là tôi không có ký ức cá nhân về cái thế giới được mô tả ở đây, không có gia đình hay tài sản hay địa vị nào bị mất hay được lợi trực tiếp từ những sự kiện đó theo cái nghĩa cá nhân sắc bén nhất. Nhưng cũng có nghĩa là tôi lớn lên trong cái bóng dài của những sự kiện đó, trong một thành phố mang một tên mới nhưng vẫn nói tiếng cũ trong bếp nhà mình, trong một xã hội mà vết thương không được nói ra thành lời nhưng hiện diện khắp nơi trong cách người ta nhìn nhau và cách người ta không nhìn nhau. Cái vị trí đó, vừa đủ gần để cảm nhận được hơi ấm của lịch sử trên da, vừa đủ xa để không bị nó thiêu đốt, là cái duy nhất tôi có để đem vào bài viết này. Điều tôi cố ý gác lại, và xin mời người đọc cùng gác lại trong suốt hành trình này, là những tranh cãi về đúng sai, chính nghĩa và phi nghĩa, những lập luận hệ tư tưởng mà dù được đặt ra với sự thành thật hoàn toàn vẫn không thể tránh khỏi việc nhìn sự kiện qua màu kính của bên này hay bên kia. Những tranh cãi đó hoàn toàn có giá trị, nhưng vì chúng đã được tiến hành trong suốt nửa thế kỷ qua và sẽ còn được tiến hành tiếp tục, và chúng không phải công việc của bài viết này muốn hướng đến. Công việc của bài viết này là một thứ khác, khiêm tốn hơn về tham vọng đạo đức nhưng đòi hỏi hơn về sự kiên nhẫn phân tích: nhìn vào nền kinh tế của Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1954-1975, đặc biệt là những năm tháng cuối cùng từ 1973 đến 1975, qua lăng kính duy nhất của kinh tế học vĩ mô, và hỏi xem những cấu trúc, những con số và những cơ chế vận hành thực sự của nó nói lên điều gì.
Kinh tế học vĩ mô là một thứ ngôn ngữ đặc biệt có giá trị trong những tình huống mà mọi ngôn ngữ khác đều đã bị ô nhiễm bởi ý thức hệ và cảm xúc tập thể, vì nó nói bằng con số và cấu trúc thay vì bằng tình cảm và lập trường. Tỷ lệ lạm phát không có quê hương, cán cân thương mại không mang màu cờ. Tốc độ sụt giảm sản lượng công nghiệp không quan tâm đến ai là người chiến thắng hay thua cuộc về mặt chính trị. Những con số đó tồn tại độc lập với mọi phiên bản tường thuật, và chính vì vậy chúng có thể nói những điều mà mọi phiên bản tường thuật đều muốn nói theo cách riêng của mình nhưng không thể nói với sự trung thực tuyệt đối như những con số làm được. Những gì bạn sắp đọc trong ở phần tiếp theo là câu chuyện của một nền kinh tế được xây dựng trên một nền tảng đặc thù, vận hành theo những logic đặc thù, và sụp đổ theo những cơ chế có thể truy nguyên và phân tích với sự rõ ràng đáng ngạc nhiên nếu người ta sẵn sàng nhìn vào đúng tầng của vấn đề. Đó là câu chuyện về cấu trúc công nghiệp chỉ chiếm chưa đầy một phần mười nền kinh tế, về hai mươi năm nhập siêu khổng lồ được tài trợ bởi nguồn lực bên ngoài, về cú sốc kép của rút quân và cắt viện trợ, về lạm phát phi mã ăn mòn ý chí từ bên trong, về sự tập trung quyền lực kinh tế trong tay một nhóm nhỏ không có khả năng bị điều tiết trong khủng hoảng, và về cái khoảnh khắc mà tất cả những điểm yếu tích lũy đó hội tụ lại và sụp đổ theo cái tốc độ mà những ai chứng kiến vẫn còn bàng hoàng mô tả nhiều thập kỷ sau.
Tôi không viết bài này để kết luận bất cứ điều gì về chính trị, về tính hợp pháp hay bất hợp pháp của bất cứ phía nào, về ai đúng ai sai trong cái nghĩa lớn hơn của lịch sử. Tôi viết nó vì tôi tin rằng hiểu một nền kinh tế từng tồn tại, hiểu đúng và hiểu đủ không phải theo nghĩa tuyên truyền của bất kỳ phía nào, là cách trân trọng thực sự nhất đối với những cuộc đời đã sống trong nó, đã chịu đựng những hậu quả của nó, và đã bị định hình bởi sự sụp đổ của nó theo những cách mà con cháu họ, trong đó có tôi, vẫn còn đang tiếp tục hiểu dần ra đến tận hôm nay.
Bản chất của nền kinh tế phụ thuộc viện trợ
Có một cách hiểu phổ biến về miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 mà dù không hoàn toàn sai, nhưng lại thiếu đi sự suy xét: người ta nhìn vào Sài Gòn thập niên 1960 với những con phố đông đúc hàng hóa nhập khẩu, những khách sạn mọc lên nhanh chóng, những cửa hàng tạp hóa tràn ngập hàng Mỹ, và kết luận rằng đây là một xã hội đang trên đà hiện đại hóa, kết luận đó chứa đựng một sự ngộ nhận nền tảng về bản chất của thịnh vượng kinh tế, và chính sự ngộ nhận này đã khiến cú sốc năm 1975 trở nên tàn khốc đến mức nhiều người hoàn toàn không kịp hiểu chuyện gì đã xảy ra.
Để hiểu tại sao nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa (VNCH) sụp đổ nhanh và toàn diện đến vậy trong giai đoạn 1973-1975, cần phải quay ngược về cái cấu trúc gốc rễ của nó, góc độ thuần túy kinh tế học. Và khi nhìn vào cấu trúc đó, điều hiện ra trước mắt là một hệ thống được xây dựng không phải để tự vận hành, mà để được nuôi dưỡng từ bên ngoài bằng một lượng ngoại lực khổng lồ và liên tục. Khi nguồn lực đó bị thu hẹp, không có gì bên trong đủ sức chống đỡ. Nền kinh tế của VNCH, trong suốt hai thập kỷ tồn tại, về bản chất là một nền kinh tế hướng nội với quy mô cực kỳ nhỏ bé. Khu vực công nghiệp chế tạo chưa bao giờ vượt qua ngưỡng 8 đến 10% GDP, một con số đáng kinh ngạc nếu đặt cạnh bất kỳ mô hình phát triển thành công nào của châu Á cùng thời kỳ. Đài Loan và Hàn Quốc, xuất phát điểm vào đầu thập niên 1950 cũng không khá hơn miền Nam Việt Nam là bao, đã đi theo con đường xây dựng năng lực sản xuất công nghiệp xuất khẩu với sự kết hợp giữa đầu tư có chọn lọc và chính sách bảo hộ tạm thời. Miền Nam đi con đường khác, và khoảng cách giữa hai con đường đó chính là bối cảnh để đánh giá những gì xảy ra sau năm 1973. Cái cơ chế nuôi dưỡng sự phồn vinh đô thị của VNCH là Chương trình Viện trợ Thương mại, hay CIP (Commercial Import Program), một sáng kiến của Mỹ được thiết kế với mục tiêu rõ ràng là bơm ngoại tệ vào kho bạc Sài Gòn theo cách để ít gây lạm phát nhất có thể. Cơ chế vận hành của nó khá đơn giản về mặt kỹ thuật: chính phủ Mỹ cung cấp đô la với tỷ giá được trợ giá, thương nhân miền Nam dùng tiền đồng để mua số đô la đó, rồi dùng đô la nhập hàng hóa từ nước ngoài về bán trong nước; phần tiền đồng thu được chảy vào ngân sách VNCH và được dùng để trang trải chi phí chiến tranh nội địa, chủ yếu là lương quân đội và bộ máy hành chính. Về mặt lý thuyết, đây là một vòng tròn khép kín khá tinh tế: Mỹ không cần chuyển thẳng tiền mặt vào tay chính phủ Sài Gòn, mà thông qua khu vực tư nhân tạo ra thanh khoản nội địa. Áp lực lạm phát được giảm thiểu vì hàng hóa nhập khẩu liên tục đổ vào thị trường, hút bớt tiền đồng lưu thông. Vấn đề không nằm ở thiết kế lý thuyết của CIP, mà nằm ở điều xảy ra khi lý thuyết chạm vào thực tế. Những thương nhân được tiếp cận đô la giá rẻ không đầu tư vào máy móc sản xuất, không nhập thiết bị để xây nhà máy dệt hay lắp ráp linh kiện điện tử, không dùng cơ hội vàng đó để xây dựng một nền tảng công nghiệp có khả năng tự tái sản xuất. Họ nhập hàng tiêu dùng. Xe hơi, máy lạnh, đồ điện tử, vải sợi cao cấp, mỹ phẩm, rượu ngoại, và vô số thứ khác phục vụ nhu cầu tức thì của một tầng lớp đô thị đang có tiền và muốn tiêu dùng ngay, đây là một lựa chọn hoàn toàn duy lý từ góc độ của từng cá nhân thương nhân, nhưng ở tầm vĩ mô, nó đồng nghĩa với việc dòng ngoại tệ viện trợ không được chuyển hóa thành năng lực sản xuất mà tan biến vào tiêu dùng cuối cùng, không để lại gì ngoài sự thỏa mãn nhất thời và một đống hàng nhập khẩu trên kệ.
Hệ quả của hai mươi năm vận hành theo logic này được ghi lại trong một cặp số liệu đối lập nhau theo cách khó hiểu: tổng giá trị nhập khẩu tích lũy trong toàn bộ hai thập kỷ tồn tại của VNCH đạt xấp xỉ 10 tỷ đô la Mỹ, trong khi tổng giá trị xuất khẩu chưa chạm tới ngưỡng 1 tỷ đô la. Thâm hụt cán cân thương mại duy trì ở mức khoảng 500 triệu đô la mỗi năm, con số mà khi quy đổi sang tương quan với quy mô nền kinh tế miền Nam lúc bấy giờ, xấp xỉ 50% GDP. Đây không phải thâm hụt thương mại của một nền kinh tế đang phát triển vay mượn để đầu tư cho tương lai, kiểu mà nhiều quốc gia công nghiệp hóa thành công đã trải qua trong giai đoạn cất cánh. Đây là thâm hụt của một nền kinh tế đang tiêu thụ tài sản ngoại lực mà không tạo ra bất cứ năng lực hoàn trả nào, như một người sống bằng tiền thừa kế mà không hề đi làm, chỉ khác ở chỗ người này không nhận ra rằng gia tài có ngày cạn.
Bên cạnh dòng chảy CIP, còn có một nguồn kích thích kinh tế khổng lồ khác: sự hiện diện trực tiếp của quân đội Hoa Kỳ trên đất miền Nam. Vào đỉnh điểm năm 1969, hơn nửa triệu lính Mỹ đóng quân và chi tiêu trên lãnh thổ VNCH. Mỗi người lính tiêu dùng cá nhân, từ đồ ăn đến giải trí đến các dịch vụ phi chính thức, tạo ra một lực cầu nội địa khổng lồ và phi tự nhiên. Ước tính toàn bộ chi tiêu phát sinh từ sự hiện diện quân sự này, bao gồm cả chi tiêu trực tiếp của binh lính lẫn các hợp đồng dịch vụ và xây dựng liên quan, vào khoảng 4 đến 5 tỷ đô la mỗi năm, tương đương gấp đôi toàn bộ GDP sản xuất nội địa của miền Nam trong cùng thời kỳ. Con số này không những to lớn, nó còn che khuất hoàn toàn thực chất của cái bên dưới nó. Cái bên dưới đó, khi lớp sơn phồn vinh được gỡ ra, là một bức tranh khác hẳn. Khu vực đô thị của miền Nam, đặc biệt là vùng Sài Gòn-Gia Định, bùng nổ dân số trong chiến tranh do làn sóng di dân từ nông thôn chạy tránh vùng chiến sự. Thành phố không có hạ tầng để hấp thụ dân số tăng đột ngột đó vào khu vực kinh tế chính thức. Kết quả là khoảng 40% dân số toàn vùng Sài Gòn, tức xấp xỉ 1,2 triệu người tính đến đầu thập niên 1970, sống trong các khu ổ chuột dọc theo kênh rạch ven đô, trong các xóm lao động tạm bợ chen chúc quanh sân bay hay gần các căn cứ quân sự, trong những không gian mà không một tiêu chuẩn đô thị hiện đại nào có thể gọi là nhà ở. Họ tồn tại trong nền kinh tế phi chính thức, không được bảo vệ bởi bất kỳ hệ thống an sinh nào đáng kể, hoàn toàn phụ thuộc vào sự ổn định của cái hệ sinh thái kinh tế nhân tạo bao quanh họ. Hai thực tại này, cái Sài Gòn của những cửa hàng hàng nhập khẩu và những khách sạn nhộn nhịp người Mỹ, và cái Sài Gòn của 1,2 triệu người trong ổ chuột không điện không nước sạch, tồn tại song song và không mâu thuẫn nhau trong mắt hầu hết người quan sát đương thời vì cái đầu to và sáng đến mức che lấp hoàn toàn những cái đằng sau đó. Đây là cách mà sự phồn vinh giả tạo vận hành ỏ phiên bản tốt nhất, nó không cần che giấu, nó chỉ cần đủ chói để làm người ta không muốn nhìn vào những góc tối.
Từ góc nhìn của kinh tế học phát triển hiện đại, nền kinh tế VNCH thuộc về một loại hình mà các nhà nghiên cứu sau này gọi là “nền kinh tế ngoại lực” (exogenous economy) hay đôi khi là “nền kinh tế viện trợ” (aid economy). Đây không phải một khái niệm xấu về mặt đạo đức, nhưng là một mô tả kỹ thuật về một hệ thống mà mọi chuyển động bên trong đều phụ thuộc vào lực đẩy bên ngoài để tồn tại. Điểm yếu chết người của mô hình này không phải là quy mô viện trợ nhỏ, mà ngược lại, là khi viện trợ quá lớn và kéo dài đủ lâu để thay thế hoàn toàn động lực phát triển nội sinh thay vì bổ sung cho nó. Hai mươi năm CIP và sự hiện diện quân sự Mỹ đã làm đúng điều đó: chúng không giúp miền Nam xây dựng khả năng tự lực, chúng khiến cả một hệ thống kinh tế quên đi rằng tự lực là cần thiết. Và khi người Mỹ bắt đầu rút quân từ từ sau năm 1969, và khi Quốc hội Mỹ bắt đầu cắt giảm viện trợ quân sự và kinh tế trong những năm 1972-1974, điều xảy ra không phải là một nền kinh tế lành mạnh đang trải qua khủng hoảng tạm thời. Điều xảy ra là lực đẩy bên ngoài bị tắt, và phía sau nó, người ta mới nhìn thấy rõ rằng không có động cơ bên trong nào đủ mạnh để thay thế. Không có công nghiệp sản xuất, không có cơ sở xuất khẩu, không có thị trường vốn hoạt động độc lập, không có chuỗi cung ứng trong nước đã trưởng thành đủ để hấp thụ cú sốc. Cái gọi là sự phồn vinh của Sài Gòn thập niên 1960 hóa ra không phải nền móng của một sự phát triển kinh tế mà là bề mặt của một sự tiêu thụ được tài trợ, và bề mặt, như bản chất của nó, không mang trọng lượng hay đủ nội tại.
Cú sốc Hiệp định Paris và sự rút lui của Hoa Kỳ
Trong khoa học tự nhiên, có một khái niệm gọi là “tải trọng tới hạn”: cái ngưỡng mà một kết cấu có thể chịu đựng trước khi bắt đầu biến dạng không thể phục hồi. Những kỹ sư giỏi thiết kế hệ thống với biên độ an toàn đủ lớn để không bao giờ chạm tới ngưỡng đó. Những người thiết kế nền kinh tế VNCH, dù vô tình hay hữu ý, đã không làm vậy. Họ xây một hệ thống không có biên độ an toàn nào cả, và Hiệp định Paris ký kết tháng 1 năm 1973 chính là thời điểm tải trọng bên ngoài bắt đầu được dỡ xuống, từng lớp một, trong khi phần cấu trúc bên trong lộ ra ngày càng rõ hơn sự trống rỗng của nó. Điều quan trọng cần hiểu về giai đoạn này không phải là việc người Mỹ rút đi đã gây ra thiệt hại như thế nào, mà là tại sao cùng một sự kiện lại có tác động hủy diệt đến vậy đối với một nền kinh tế có quy mô dân số và tài nguyên thiên nhiên vào loại trung bình của Đông Nam Á. Câu trả lời nằm ở một nguyên tắc kinh tế học căn bản: bất kỳ nền kinh tế nào phụ thuộc vào một nguồn thu nhập ngoại sinh chiếm tỷ trọng lớn hơn tổng sản lượng nội địa của nó, khi nguồn thu đó biến mất, sẽ không trải qua một cơn suy thoái thông thường mà trải qua một sự co cụm cấu trúc, và hai thứ đó khác nhau về bản chất chứ không chỉ về mức độ. Suy thoái là một nền kinh tế khỏe mạnh tạm thời hoạt động dưới công suất. Co cụm cấu trúc là một nền kinh tế mất đi cái định nghĩa về “công suất bình thường” của chính nó.
Khoảng trống mà nửa triệu lính Mỹ để lại khi rút về không phải là một con số trừu tượng. Mỗi năm, lực chi tiêu từ sự hiện diện quân sự Mỹ đổ vào nền kinh tế miền Nam ước tính từ 4 đến 5 tỷ đô la, bao gồm lương trực tiếp binh lính chi tiêu tại chỗ, các hợp đồng dịch vụ hậu cần, xây dựng và vận tải, các khoản thuê mướn bất động sản và nhân lực dân sự, và cả một hệ sinh thái kinh tế phi chính thức khổng lồ mà không ai đo đếm đầy đủ được. Đây là mức chi tiêu vượt quá toàn bộ GDP sản xuất nội địa của miền Nam trong nhiều năm liên tiếp, và nó biến mất không phải theo kiểu từ từ suy giảm mà theo kiểu một chiếc vòi được khóa lại. Cái cụ thể nhất trong quá trình rút quân không phải là những căn cứ quân sự bị bàn giao hay những kho hàng được chuyển đi, mà ở đây là con số lao động. Vào năm 1971, khi quân số Mỹ vẫn còn ở mức hàng trăm nghìn người, khoảng 100.000 lao động người Việt làm việc trực tiếp cho các cơ sở Mỹ, từ người lái xe, thông dịch viên, kế toán, thợ cơ khí, đến người dọn dẹp và phục vụ hậu cần đủ loại. Đây là tầng lớp lao động đặc thù: được trả lương bằng đô la hoặc theo mức lương cao hơn hẳn khu vực tư nhân trong nước, có thu nhập ổn định và khả năng tiêu dùng vượt xa mức trung bình. Đến cuối năm 1972, con số này còn 10.000 người. Tức là trong khoảng 18 tháng, 90.000 gia đình mất đi nguồn thu nhập chính. Không có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp nào đủ năng lực để hấp thụ cú sốc đó, cũng không có khu vực tư nhân nào đang tăng trưởng đủ mạnh để thu nhận lượng lao động bị đẩy ra đột ngột như vậy. Nhưng nếu chỉ dừng ở đây, câu chuyện vẫn chưa hoàn toàn: vì song song với làn sóng thất nghiệp trực tiếp từ rút quân, còn diễn ra một biến động khác ở phía bên kia Thái Bình Dương mà hậu quả của nó đối với VNCH không kém phần tàn khốc, chỉ khác là đến chậm hơn và qua một cơ chế gián tiếp hơn. Vụ Watergate nổ ra không phải là một khủng hoảng chính trị của người Việt, nhưng nó quyết định số phận của viện trợ Mỹ cho VNCH theo cách mà không một quyết định nào được đưa ra trên đất Việt Nam có thể ảnh hưởng được. Khi Richard Nixon, người đã ký Hiệp định Paris và cam kết tiếp tục ủng hộ Sài Gòn, bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc điều tra Quốc hội, cán cân quyền lực giữa hành pháp và lập pháp Mỹ trong vấn đề Đông Dương dịch chuyển hoàn toàn. Quốc hội, vốn đã mệt mỏi và nghi ngờ sau một thập kỷ dính líu quân sự tốn kém và không rõ đích đến, nắm lấy cơ hội mà sự suy yếu của Nhà Trắng tạo ra để cắt giảm những gì họ cho là gánh nặng vô tận.
Kết quả là mức viện trợ quân sự dành cho VNCH trong tài khóa 1974-1975 bị cắt xuống còn 700 triệu đô la từ mức 1,4 tỷ đô la trước đó, tức giảm đúng một nửa theo danh nghĩa. Nhưng con số danh nghĩa đó che giấu một thực tế còn tàn khốc hơn nhiều. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, khi OPEC áp đặt lệnh cấm vận và giá dầu thế giới tăng gần gấp bốn lần chỉ trong vòng vài tháng, đã đẩy giá tất cả các loại vật tư quân sự lên mức mà 700 triệu đô la năm 1974 mua được chưa bằng một nửa những gì 700 triệu đô la năm 1972 mua được. Tính theo sức mua thực tế đối với đạn dược, nhiên liệu, phụ tùng và thiết bị, viện trợ đã không bị cắt một nửa mà thực chất bị cắt xuống chỉ còn khoảng 30 đến 35% so với mức đỉnh. Đây là sự khác biệt giữa khó khăn và tê liệt. Tác động của hai làn sóng đó, rút quân và cắt viện trợ, hiện ra rõ nhất trong số liệu sản xuất công nghiệp. Tổng sản lượng công nghiệp của VNCH đã sụt giảm 5% trong năm 1972 ngay khi quá trình rút quân Mỹ đang ở giai đoạn cuối, rồi tiếp tục rơi thêm 22% trong năm 1973, và rơi tiếp 21% nữa trong năm 1974. Cộng lại, trong vòng ba năm, gần một nửa sản lượng công nghiệp của miền Nam bốc hơi. Không có nền kinh tế nào, dù lành mạnh đến đâu, có thể hấp thụ mức co cụm sản xuất đó mà không rơi vào khủng hoảng xã hội sâu rộng. Với một nền kinh tế vốn đã mong manh như VNCH, nó đồng nghĩa với sự phá vỡ từng chuỗi hoạt động kinh tế một theo phản ứng dây chuyền.
Cơ chế lan truyền của phản ứng đó đáng được phân tích kỹ hơn, vì nó phức tạp hơn cái nhìn đơn giản rằng “ít tiền thì không làm được gì.” Khi viện trợ quân sự sụt giảm, chi phí vận hành quân đội tăng lên do lạm phát nhiên liệu và vật tư, dẫn đến tình trạng thiếu hụt đạn dược và xăng dầu ngay trong các đơn vị tác chiến. Quân đội VNCH, được huấn luyện và trang bị theo tiêu chuẩn sử dụng hỏa lực vượt trội để bù đắp cho những hạn chế về chiến thuật bộ binh, phụ thuộc vào một lượng đạn dược và nhiên liệu khổng lồ để duy trì hiệu quả chiến đấu. Khi nguồn cung đó bị siết lại, không phải từng bước mà đột ngột, các đơn vị không chỉ mất hỏa lực mà còn mất khả năng cơ động chiến thuật, mất sự tự tin, và dần mất cả niềm tin vào khả năng của bộ chỉ huy.
Ở mặt dân sự, tác động không kém phần nghiêm trọng nhưng ít được ghi chép ở các nguồn chính thống hơn. Xăng dầu khan hiếm đồng nghĩa với chi phí vận tải tăng vọt, kéo theo giá lương thực và hàng hóa thiết yếu leo thang trong khi thu nhập danh nghĩa không tăng kịp. Lạm phát, vốn đã được kích hoạt bởi sự mất cân đối cơ cấu từ trước, bắt đầu chạy nhanh hơn. Ngân sách nhà nước rơi vào thế kẹt kinh điển: nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng trong khi nguồn thu thu hẹp lại, dẫn đến việc in tiền như một phương sách cuối cùng, vừa làm trầm trọng thêm lạm phát vừa bào mòn niềm tin vào đồng bạc. Một vòng xoáy tiêu cực được kích hoạt và tự nó nuôi dưỡng chính nó. Cái làm cho giai đoạn 1973-1974 đặc biệt nguy hiểm không chỉ là tốc độ sụt giảm mà là tính chất đồng thời của nhiều cú sốc xảy ra cùng một lúc: quân Mỹ rút về, công nhân mất việc, viện trợ bị cắt giảm danh nghĩa, giá dầu thế giới tăng đột biến, lạm phát leo thang, sản xuất công nghiệp sụt giảm nghiêm trọng. Mỗi yếu tố đó, nếu đứng một mình, có thể được quản lý và điều chỉnh dần dần. Khi tất cả xảy ra trong vòng hai năm, không có chính phủ nào với năng lực thể chế trung bình có thể phản ứng kịp, huống gì một chính phủ đang đồng thời tiến hành chiến tranh và chưa bao giờ trong hai thập kỷ tồn tại phải tự chống chịu bằng chính nguồn lực của mình.
Nhưng có lẽ điều đáng nói nhất về giai đoạn này là cái mà các nhà kinh tế học gọi là “kỳ vọng.” Trong bất kỳ nền kinh tế nào, hành vi của các tác nhân kinh tế, từ nhà đầu tư đến người lao động đến người tiêu dùng bình thường, không chỉ phụ thuộc vào thực tế hiện tại mà vào những gì họ kỳ vọng sẽ xảy ra tiếp theo. Khi chứng kiến liên tiếp những tín hiệu xấu mà không có một tín hiệu tích cực nào đủ mạnh để đối trọng, kỳ vọng của toàn xã hội có xu hướng dịch chuyển về phía bi quan, và một khi điều đó xảy ra, hành vi tự bảo vệ cá nhân, như tích trữ hàng hóa, chuyển đô la, rút vốn, trốn thuế và tham nhũng gia tăng, trở thành những quyết định duy lý ở cấp độ cá nhân nhưng là thảm họa ở cấp độ tập thể vì chúng đẩy nhanh chính cái xu hướng tiêu cực mà chúng đang phản ứng lại.
Đến cuối năm 1974, nền kinh tế VNCH không còn đang đối mặt với một cú sốc ngoại lực nữa. Nó đang trải qua một cuộc khủng hoảng nội sinh, một cuộc khủng hoảng mà nền tảng được đặt từ trước và cú sốc bên ngoài chỉ là cái kích hoạt nó. Sự phân biệt này quan trọng hơn có vẻ, vì nó giải thích tại sao các biện pháp ứng phó cấp tính, điều chỉnh tỷ giá, tiết kiệm ngân sách, kêu gọi viện trợ bổ sung, đều không thể đảo ngược xu hướng. Người ta không thể chữa khỏi một bệnh mạn tính bằng thuốc giảm đau cấp tính, và Sài Gòn vào những tháng cuối năm 1974, dù vẫn đang hoạt động trên bề mặt, đã bước vào một quỹ đạo mà không có điều chỉnh chính sách thông thường nào có thể thay đổi được nếu không có một cuộc tái cơ cấu căn bản hơn rất nhiều, với thời gian và nguồn lực mà lịch sử đã không thể trao cho nó.
Siêu lạm phát và sự xói mòn từ bên trong quân đội
Có một điều mà những bài viết về cuộc chiến này từ góc độ thuần túy quân sự thường bỏ qua: ý chí chiến đấu của một người lính không phải là một biến số tinh thần thuần túy, một thứ được đúc ra từ lý tưởng và huấn luyện rồi tồn tại độc lập với điều kiện vật chất xung quanh. Nó là một hàm số phức tạp mà trong đó, điều kiện kinh tế của bản thân người lính và gia đình họ đóng vai trò nền tảng hơn bất kỳ học thuyết động viên nào. Khi một người đàn ông cầm súng biết rằng vợ và con ở nhà không đủ ăn, rằng đồng lương anh ta nhận vào cuối tháng không còn mua được đủ gạo cho gia đình qua tuần, anh ta không cần một lý do đặc biệt để buông súng, anh ta cần một lý do đặc biệt để tiếp tục cầm nó.
Và l ạm phát phi mã là thứ vũ khí độc ác nhất mà một nền kinh tế có thể quay lại tấn công chính những người cầm súng bảo vệ nó, vì không giống bom đạn hay bệnh tật, nó không giết người một lần mà bào mòn từng ngày, từng tháng, không thể thấy, không thể tránh, và gần như không thể chống lại bằng bất kỳ hành động cá nhân nào trong khuôn khổ hợp pháp.
Để hiểu tại sao lạm phát ở VNCH trong giai đoạn 1973-1975 không chỉ là một vấn đề kinh tế mà là một vấn đề quân sự sống còn, cần bắt đầu từ cái con số: 36,8% năm 1970, một tỷ lệ lạm phát mà trong bối cảnh chiến tranh và kinh tế phụ thuộc viện trợ vẫn còn nằm trong ngưỡng có thể quản lý được nếu có chính sách đúng đắn. Rồi 44,5% năm 1973, tín hiệu rõ ràng rằng các biện pháp kiềm chế đang mất tác dụng. Và sau đó là năm 1974, khi lạm phát vượt ngưỡng 200%, một con số mà về mặt kỹ thuật kinh tế học đã thuộc về phạm trù khác hoàn toàn, không còn là lạm phát cao mà là siêu lạm phát, loại hiện tượng tiền tệ mà lịch sử kinh tế thế giới ghi nhận như một trong những dạng khủng hoảng tàn phá nhất đối với kết cấu xã hội. Cái cơ chế tạo ra con số 200% đó không bí ẩn và cũng không phải là kết quả của một quyết định sai lầm đơn lẻ nào. Nó là hệ quả tất yếu của cái bẫy ngân sách mà chính phủ Sài Gòn đang mắc kẹt từ năm 1973: chi tiêu bắt buộc, chủ yếu là lương quân đội và bộ máy hành chính chiếm tỷ trọng lớn của ngân sách, không thể giảm được vì giảm lương quân đội trong lúc đang chiến tranh đồng nghĩa với tự sát chính trị và quân sự. Nhưng thu ngân sách thì đang sụt giảm theo đúng tỷ lệ với sự co cụm của nền kinh tế, trong khi viện trợ nước ngoài vừa bị cắt giảm đúng vào lúc nhu cầu lớn nhất. Khoảng cách giữa thu và chi chỉ có một cách lấp đầy trong ngắn hạn: in tiền. Và khi tiền được in không có tài sản thực tế để bảo chứng, mỗi tờ giấy bạc mới phát hành đều làm loãng giá trị của số tiền đang lưu thông, đẩy giá cả leo thang, rồi lại buộc phải in thêm để bù đắp cho chi tiêu ngân sách đang leo thang theo giá cả, tạo thành một vòng xoáy tự nuôi dưỡng mà không có điểm dừng tự nhiên nào nếu cấu trúc cơ bản không được thay đổi.
Những con số giá cả hàng hóa thiết yếu trong năm 1973 ghi lại tốc độ của vòng xoáy đó theo cách không thể bào chữa hay giải thích vòng vèo: giá gạo tăng 100%, đường tăng 165%, xăng tăng gần sáu lần. Gạo và đường là thực phẩm cơ bản của bữa ăn hàng ngày của mọi gia đình, không phân biệt giàu nghèo hay thành phần xã hội. Xăng là thứ mà mọi hoạt động kinh tế và sinh hoạt đô thị đều phụ thuộc vào, từ xe máy mưu sinh đến xe tải chở hàng đến máy phát điện của bệnh viện. Khi những mặt hàng này tăng giá cùng lúc với tốc độ như vậy trong một năm, không chỉ người nghèo bị ảnh hưởng mà tầng lớp thu nhập cố định, công chức, giáo viên, và đặc biệt là quân nhân, bị đẩy thẳng vào cảnh bần cùng trong một thời gian ngắn đến mức họ không có đủ thời gian để điều chỉnh hành vi kinh tế của mình.
Người lính VNCH vào năm 1974 nhận một mức lương được ấn định theo giá trị danh nghĩa từ trước đó, trong khi giá cả thực tế đã tăng gấp đôi hoặc hơn. Điều này có nghĩa là cùng một công việc, cùng rủi ro tính mạng, cùng số giờ phục vụ, anh ta chỉ còn nhận được chưa bằng một nửa sức mua thực tế so với người đồng ngũ hai năm trước đó. Trong những trường hợp cụ thể được ghi nhận, lương tháng của một hạ sĩ quan không còn đủ mua một bao gạo 50 ký trên thị trường. Không phải gần đủ, không phải thiếu một ít, mà thực sự không đủ cho cái nhu cầu thiết yếu và đơn giản nhất của một gia đình ở miền Nam. Cần dừng lại ở đây để cảm nhận đầy đủ cái mà con số đó có nghĩa trong thực tế. Người đàn ông đó mang súng, đóng quân cách nhà hàng trăm cây số, đối mặt với nguy cơ bị thương hoặc bị giết mỗi ngày, và khi nhận lương vào cuối tháng, anh ta không thể gửi về đủ tiền để gia đình mua gạo. Vợ anh ta phải tự xoay xở, hoặc bán đồ đạc trong nhà, hoặc vay nợ, hoặc tìm kiếm thu nhập khác theo bất kỳ cách nào có thể. Những lá thư từ nhà gửi lên, hay những lần tranh thủ về phép ngắn ngủi, đều mang về cùng một thực tại: gia đình đang khốn khó và người đàn ông đang cầm súng không làm được gì để thay đổi điều đó nếu vẫn tiếp tục cầm súng.
Đào ngũ trong bối cảnh đó không phải là hèn nhát hay phản bội theo nghĩa thông thường. Nó là một phép tính kinh tế lạnh lùng và hoàn toàn duy lý: nếu ở lại, gia đình đói. Nếu rời đi, ít nhất có thể lao động ở đâu đó để kiếm tiền nuôi con. Tỷ lệ đào ngũ trong quân đội VNCH tăng vọt trong giai đoạn 1973-1974 đến mức các cơ quan hoạch định quân sự không còn có thể che giấu bằng ngôn ngữ báo cáo nội bộ thông thường. Ước tính đào ngũ ở một số đơn vị lên tới hàng chục phần trăm quân số trong vòng một năm, và không phải những người đào ngũ đều trốn sang phía đối phương hay trở thành phần tử chống đối, phần lớn họ chỉ đơn giản là trở về nhà và cố sống qua ngày, biến thành người vô hình trong cái xã hội đang hỗn loạn chung quanh.
Nhưng đào ngũ chỉ là một triệu chứng. Cái bệnh bên dưới, tuy ít thấy hơn từ bên ngoài nhưng mang tính hủy hoại cấu trúc sâu sắc hơn nhiều, là tham nhũng có hệ thống trong bộ máy quân sự. Và để hiểu tại sao tham nhũng quân sự ở VNCH giai đoạn này không chỉ là vấn đề đạo đức mà là vấn đề chiến lược, cần hiểu cái cơ chế mà người ta gọi bằng hai từ quen thuộc: lính ma và lính kiểng. Lính ma là những quân nhân tồn tại trên sổ sách nhưng không tồn tại ngoài đời thực, đã đào ngũ, đã chết, hoặc chưa bao giờ được tuyển mộ nhưng vẫn có tên trong danh sách nhận lương. Lính kiểng là những người có mặt thực sự nhưng không làm nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ cho sĩ quan chỉ huy như lao động cá nhân, làm việc nhà, chạy việc vặt, hoặc làm kinh tế tư nhân cho cấp trên. Cả hai loại đều là cách sĩ quan khai khống quân số để hưởng phần lương và phụ cấp tương ứng, biến ngân sách quân sự thành nguồn thu nhập bổ sung cá nhân trong bối cảnh lạm phát đang bào mòn thu nhập của họ không kém gì binh lính cấp dưới.
Điều cần nhấn mạnh là tham nhũng này không hoàn toàn phát sinh từ sự tha hóa đạo đức của cá nhân sĩ quan, mặc dù yếu tố đó có. Nó phát sinh từ một cấu trúc khuyến khích bị méo mó hoàn toàn bởi lạm phát: khi lương chính thức không đủ sống, hệ thống tự điều chỉnh bằng cách tạo ra các dòng thu nhập phi chính thức để bù đắp. Vấn đề là cái “điều chỉnh tự phát” đó không trung lập về mặt quân sự. Mỗi lính ma trên danh sách là một họng súng không có mặt ở tuyến đầu. Mỗi lính kiểng là một người không làm nhiệm vụ chiến đấu. Cộng lại, khoảng cách giữa quân số trên giấy và quân số chiến đấu thực sự trong nhiều đơn vị của VNCH vào năm 1974 đã trở thành một bí mật mà hầu như tất cả mọi người trong hệ thống đều biết nhưng không ai có đủ động lực chính thức để giải quyết, vì giải quyết triệt để đồng nghĩa với việc phơi bày ra những con số sẽ khiến cả bộ chỉ huy phải đối mặt với thực tế mà không ai muốn thừa nhận. Hệ quả của sự méo mó đó đối với năng lực tác chiến là thảm khốc theo một cách rất cụ thể. Kế hoạch tác chiến được xây dựng dựa trên quân số báo cáo. Hỏa lực và hậu cần được phân bổ dựa trên con số đó. Khi một đơn vị được giao nhiệm vụ phòng thủ một khu vực với giả định có đủ quân số theo biên chế, nhưng thực tế tại trận địa chỉ có sáu mươi hay bảy mươi phần trăm số đó, lỗ hổng trong tuyến phòng thủ không phải là sự tính toán sai của chỉ huy mà là hậu quả tất yếu của cái khoảng cách giữa báo cáo và thực tế mà hệ thống đã tích lũy trong nhiều năm. Kẻ thù không cần tình báo đặc biệt để khai thác những lỗ hổng đó, vì chúng hiển nhiên đến mức không cần tình báo.
Có một khái niệm trong tâm lý học xã hội gọi là “sự sụp đổ của niềm tin thể chế”: thời điểm mà những cá nhân trong một tổ chức ngừng hành động vì lợi ích tập thể và bắt đầu chỉ hành động vì lợi ích cá nhân ngắn hạn, vì họ không còn tin rằng tổ chức sẽ bảo vệ họ hay phần thưởng sẽ đến với những người làm đúng. Quân đội VNCH vào năm 1974 đã ở rất gần với ngưỡng đó, nếu không muốn nói là đã vượt qua nó ở nhiều bộ phận. Người lính không còn tin rằng hy sinh của mình sẽ được đền đáp tương xứng khi đồng lương không đủ nuôi vợ con. Sĩ quan cấp thấp không còn tin rằng hệ thống thăng tiến sẽ ghi nhận năng lực thực sự khi quan hệ và tham nhũng đã trở thành ngôn ngữ thông dụng của bộ máy. Và tướng lĩnh, những người biết rõ nhất những con số thực sự của đơn vị dưới quyền, đang đối mặt với áp lực báo cáo lạc quan lên cấp trên trong khi biết rõ rằng cái lạc quan đó ngày càng xa rời thực địa.
Siêu lạm phát, vì thế, không chỉ là một con số kinh tế. Nó là dung môi hòa tan từng từng sợi kết nối giữa nhà nước và quân đội, giữa quân đội và xã hội, giữa người lính và lý do anh ta cầm súng. Nó không làm ai chết ngay lập tức, nhưng nó làm mọi thứ hoạt động kém đi một chút mỗi tháng, kém đi một chút mỗi tuần, cho đến khi cái hệ thống mà người ta nhìn vào và vẫn còn thấy những đơn vị mặc quân phục, những chiếc xe tăng lăn bánh, những khẩu pháo khai hỏa, thực ra đã trở thành một hình thức bên ngoài của điều mà bên trong đã gần như rỗng ruột. Người ta vẫn thường nói rằng VNCH sụp đổ vì thất bại quân sự. Điều đó không sai, nhưng thiếu. Nó sụp đổ vì đến năm 1975, cái thứ mà người ta gọi là “quân đội” theo nghĩa một lực lượng vũ trang có kỷ luật, có hậu cần, có ý chí chiến đấu tập thể, đã bị xói mòn từ bên trong đến mức mà chỉ cần một lực đẩy đủ mạnh từ bên ngoài là đủ để phần bên ngoài cũng sụp theo. Và cái lực đẩy đó đến vào mùa xuân năm 1975, khi cấu trúc kinh tế bên trong đã không còn đủ sức chống đỡ bất cứ điều gì nữa.
Sự lũng đoạn của tư sản mại bản
Một trong những điều ít được phân tích đầy đủ nhất trong lịch sử kinh tế VNCH là câu hỏi: ai thực sự điều hành nền kinh tế đó? Câu trả lời chính thức, tất nhiên, là chính phủ Sài Gòn với bộ máy bộ trưởng và các cơ quan điều tiết của nó. Nhưng câu trả lời thực tế, nếu nhìn vào dữ liệu cấu trúc sở hữu và kiểm soát thị trường, lại khác hoàn toàn, không phải vì ai đó đã âm mưu điều đó, mà vì đó là kết quả tự nhiên của một cấu trúc lịch sử hình thành qua nhiều thế hệ mà không một chính sách nào trong thời bình được xây dựng để thay đổi nó một cách có hệ thống.
Cộng đồng Hoa kiều ở miền Nam Việt Nam, tập trung đặc biệt ở Chợ Lớn và lan tỏa ra khắp hệ thống thương mại từ thành thị xuống nông thôn, đã xây dựng vị trí kinh tế của mình qua nhiều thế kỷ với những lợi thế kết hợp khó sao chép: mạng lưới gia tộc xuyên quốc gia cho phép tiếp cận vốn và tín dụng nội bộ với chi phí thấp, kinh nghiệm thương mại tích lũy qua nhiều thế hệ, khả năng vận hành trong môi trường pháp lý không rõ ràng, và quan trọng nhất là tính kỷ luật trong việc tái đầu tư lợi nhuận vào mở rộng kinh doanh thay vì tiêu dùng hào phóng. Đến cuối năm 1974, kết quả của tiến trình lịch sử đó được phản ánh trong những con số mà bất kỳ nhà phân tích kinh tế nào cũng phải thừa nhận là phi thường về mức độ tập trung: người Hoa kiểm soát hơn 80% cơ sở sản xuất trong các ngành then chốt gồm thực phẩm, dệt may và hóa chất, nắm 100% kênh bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và khoảng 90% toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu của miền Nam.
Trong điều kiện bình thường của một nền kinh tế thị trường ổn định, sự tập trung này không nhất thiết dẫn đến thảm họa. Một tầng lớp thương nhân hiệu quả, dù là nhóm thiểu số hay đa số, vẫn có thể đóng vai trò điều phối kinh tế hữu ích nếu có hành lang pháp lý và sức cạnh tranh đủ mạnh để ngăn chặn sự lạm dụng vị trí độc quyền. Nhưng trong điều kiện khủng hoảng, khi lạm phát phi mã, nguồn cung hàng hóa bị gián đoạn và chính phủ cần can thiệp điều phối phân phối khẩn cấp, cấu trúc tập trung đó trở thành một cái bẫy chết người. Chính quyền Sài Gòn không có công cụ để kiểm soát giá cả vì không nắm bất kỳ mắt xích nào trong chuỗi phân phối. Không có nhà máy quốc doanh sản xuất lương thực thiết yếu để làm giá tham chiếu, không có hệ thống kho dự trữ nhà nước đủ lớn để xả hàng bình ổn thị trường. Không có kênh phân phối song song nào có thể vận hành khi kênh tư nhân bị tắc nghẽn hay cố tình găm hàng chờ giá. Khi giới thương nhân, đứng trước lạm phát phi mã và sự bất ổn ngày càng tăng, hành động theo logic tự bảo vệ kinh tế hoàn toàn duy lý của họ, tức tích trữ hàng hóa thay vì bán ra khi chưa chắc chắn về giá tương lai, hậu quả đối với người tiêu dùng cuối cùng là thiếu hàng đột ngột và giá thực phẩm tăng vọt trong khi về mặt vật lý hàng hóa vẫn tồn tại đâu đó trong kho. Chính phủ không có khả năng phá vỡ tình trạng đó mà không có công cụ kiểm soát thực sự trong tay, và những sắc lệnh kiểm soát giá ban hành trong giai đoạn này chủ yếu tạo ra thị trường chợ đen hơn là kiềm chế giá thực tế trên thị trường mở.
Ở đây chúng ta có một thắc mắc cực kỳ quan trọng: tại sao miền Nam Việt Nam, một vùng đất mà từ trước đến nay vẫn được coi là vựa lúa của cả khu vực Đông Nam Á với đồng bằng sông Cửu Long màu mỡ, lại không thể tự nuôi sống dân số của mình trong giai đoạn khủng hoảng? Đây không phải câu hỏi có câu trả lời đơn giản, và cũng không phải nghịch lý nếu hiểu đúng cái cấu trúc nông nghiệp thực sự của miền Nam vào thời điểm đó. Chiến tranh kéo dài hai thập kỷ đã tàn phá sản xuất nông nghiệp theo nhiều cách đồng thời. Làn sóng tị nạn từ nông thôn đổ vào thành thị không chỉ tạo ra áp lực đô thị mà còn rút đi lực lượng lao động nông nghiệp khỏi vùng sản xuất. Các vùng canh tác màu mỡ nhất ở đồng bằng sông Cửu Long bị chia cắt bởi các vùng kiểm soát khác nhau, giao thông nội địa bị đứt đoạn bởi an ninh bất ổn, khiến lương thực sản xuất ra không thể vận chuyển thông suốt về thành phố. Chương trình Người cày có ruộng của chính phủ Thiệu thực thi từ năm 1970 tuy có một số kết quả tích cực trong phân phối lại đất đai nhưng diễn ra quá muộn và quá chậm để tạo ra sự thay đổi cấu trúc sản xuất đủ lớn trong ngắn hạn. Và khi khủng hoảng nhiên liệu năm 1973 đẩy giá xăng dầu lên sáu lần, chi phí vận hành máy bơm nước, máy cày và phương tiện vận tải nông nghiệp tăng đến mức nhiều nông dân không còn đủ vốn để canh tác theo quy mô trước đó.
Kết quả là một nghịch lý địa lý: vùng đất giàu tiềm năng nông nghiệp nhất Đông Nam Á không thể chuyển hóa tiềm năng đó thành an ninh lương thực thực sự trong bối cảnh chiến tranh và khủng hoảng kinh tế cùng lúc, vì hệ thống sản xuất, phân phối và tài chính nông nghiệp đều đã bị bào mòn đến mức mong manh theo những cách khác nhau mà không cái nào có thể được khắc phục độc lập với cái kia.
Trên nền tảng đó, cái áp lực ngân sách mà chính phủ Sài Gòn phải chịu đựng trở nên dễ hình dung hơn trong mức độ tuyệt vọng của nó. Chi tiêu quốc phòng, bao gồm lương quân đội, vũ khí đạn dược và hậu cần tác chiến, chiếm khoảng 50% toàn bộ ngân sách nhà nước trong giai đoạn 1973-1975. Đây là một tỷ lệ mà ngay cả những nền kinh tế chiến tranh lớn của lịch sử thế kỷ 20 cũng hiếm khi duy trì được trong thời gian dài mà không có cơ sở công nghiệp nội địa đủ mạnh để bù đắp. Với VNCH, 50% ngân sách dành cho quốc phòng vẫn không đủ trang trải nhu cầu thực tế vì viện trợ bị cắt giảm và lạm phát làm bốc hơi sức mua của từng đồng chi tiêu, đẩy quân đội vào tình trạng thiếu hụt mạn tính về đạn dược, nhiên liệu và phụ tùng thiết bị mà không có giải pháp ngắn hạn nào khả dĩ.
Đây là bối cảnh cần hiểu để đánh giá đúng cái quyết định được đưa ra vào tháng 3 năm 1975 tại Phú Yên, một quyết định mà nhiều nhà sử học sau này mô tả là điểm không thể quay trở lại của toàn bộ cuộc chiến. Khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân khỏi Tây Nguyên và tái phối trí lực lượng Quân đoàn 2 về vùng duyên hải, quyết định đó về mặt chiến lược không phải vô lý trong một thế giới lý tưởng nơi quân đội có đủ nhiên liệu, đủ đạn dược, đủ phương tiện và đủ thời gian để tổ chức một cuộc rút lui có trật tự. Trong thế giới thực của tháng 3 năm 1975, không có điều kiện nào trong số đó tồn tại đầy đủ. Hậu cần cho một cuộc rút lui quy mô lớn qua địa hình khó khăn cần được chuẩn bị trước hàng tuần với sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị. Thay vào đó, lệnh được ban hành trong vội vàng và bí mật đến mức ngay cả nhiều chỉ huy cấp sư đoàn cũng không được thông báo đầy đủ về kế hoạch và lộ trình.
Tỉnh lộ 7B, con đường mà Quân đoàn 2 được lệnh sử dụng để rút về vùng duyên hải, là một trong những lựa chọn địa hình tệ nhất có thể tưởng tượng cho một cuộc rút lui quân sự quy mô lớn. Đây là con đường đã bị bỏ hoang từ lâu, không được bảo trì, đi qua địa hình rừng núi hiểm trở với những cây cầu không chịu nổi tải trọng xe tăng và pháo hạng nặng. Vấn đề thực sự xảy ra khi tin tức về cuộc rút lui lan ra ngoài vòng bí mật quân sự và chạm vào cái điểm yếu nhất của toàn bộ cấu trúc xã hội-quân sự đã bị lạm phát và kiệt quệ kinh tế bào mòn trong hai năm qua. Ở các trung tâm đô thị Tây Nguyên, đặc biệt là Pleiku và Kontum, một lượng lớn gia đình binh lính đang sinh sống. Đây là hệ quả của một chính sách cho phép gia đình quân nhân đóng cùng khu vực đơn vị đóng quân, một chính sách có lý do nhân đạo và giữ chân quân ngũ trong thời bình nhưng tạo ra một điểm yếu chiến lược cực kỳ nguy hiểm trong hoàn cảnh rút lui: khi người lính biết vợ con họ đang ở giữa vùng sắp bị bỏ lại, không một mệnh lệnh quân sự nào, không một kỷ luật hay lý tưởng nào, có thể chiến thắng được bản năng bảo vệ gia đình nguyên thủy nhất của con người. Cái mà người ta gọi là “hội chứng gia đình” bùng phát gần như tức thì khi cuộc rút lui bắt đầu. Hàng chục nghìn binh sĩ rời bỏ đội hình, không phải để đầu hàng, không phải vì khiếp sợ chiến đấu theo nghĩa thông thường, mà để tìm vợ con trong dòng người tị nạn hỗn loạn đang đổ xuống cùng con đường rút lui. Vũ khí bị vứt lại ven đường. Xe tăng và pháo bị bỏ khi hết nhiên liệu hoặc khi đường bị tắc nghẽn bởi người và xe dân sự chen lẫn vào đoàn quân. Chuỗi chỉ huy tan vỡ không phải vì sĩ quan bị giết hay bị bắt mà vì đơn vị không còn ở đó để nhận lệnh. Trong vòng chưa đầy hai tuần, ước tính 75% lực lượng tác chiến của Quân đoàn 2 đã biến mất khỏi bản đồ tác chiến, không phải do tổn thất chiến đấu mà do tan rã cấu trúc. Để hiểu tại sao “hội chứng gia đình” có sức mạnh hủy diệt cả một quân đoàn trong vài ngày, cần nhớ lại cái bối cảnh kinh tế hai năm trước đó. Những người lính đó đã sống qua hai năm chứng kiến đồng lương không đủ nuôi gia đình, gia đình họ tự xoay xở trong một môi trường giá cả leo thang không ngừng, và bản thân họ không có cách nào làm tốt hơn vai trò người trụ cột trong khi vẫn mặc quân phục. Niềm tin vào khả năng của nhà nước bảo vệ cả họ lẫn gia đình họ đã bị ăn mòn đến mức gần cạn kiệt trong hai năm trước đó. Khi tình huống cuối cùng đến, khi phải lựa chọn giữa giữ nguyên vị trí theo mệnh lệnh và đi tìm gia đình đang lạc trong dòng tị nạn, cái mà họ lựa chọn không phải là sự hèn nhát mà là cái duy nhất còn lại sau khi mọi lý do khác để chiến đấu đã bị kiệt quệ kinh tế bào mòn đến tận cùng.
Đây chính là điểm mà chuỗi nhân quả từ lạm phát phi mã đến sụp đổ quân sự hiện ra trọn vẹn nhất. Không phải lạm phát trực tiếp giết chết Quân đoàn 2. Lạm phát đã giết chết thứ kết nối người lính với quân phục của anh ta trong suốt hai năm trước đó, âm thầm và đều đặn, cho đến khi kết nối đó chỉ còn là sợi chỉ mong manh. Cuộc rút lui tháng 3 năm 1975 là thứ kéo sợi chỉ đó đứt ra, và cái bên dưới nó sụp xuống với tốc độ mà không có phân tích thuần túy quân sự nào giải thích được nếu thiếu tầng phân tích kinh tế-xã hội đi kèm. Một cách khác để nhìn vào thảm họa Tây Nguyên là qua lăng kính của hậu cần, vốn là tấm gương trung thực nhất phản chiếu sức khỏe kinh tế của một lực lượng quân sự. Quân đội VNCH vào tháng 3 năm 1975 không đủ nhiên liệu để di chuyển toàn bộ phương tiện cơ giới trong một cuộc rút lui quy mô lớn. Không đủ đạn dược để duy trì hỏa lực bảo vệ đội hình trong khi rút. Không đủ phương tiện thông tin liên lạc hoạt động để duy trì chỉ huy và kiểm soát trên địa hình phức tạp. Tất cả những thiếu hụt đó không xảy ra trong một đêm mà là kết quả tích lũy của hai năm ngân sách quốc phòng bị siết chặt trong khi giá vật tư tăng gấp nhiều lần, và của cả một hệ thống hậu cần bị tham nhũng bào mòn đến mức không ai còn biết chắc con số thực của bất cứ thứ gì trong kho.
Sự sụp đổ của Quân đoàn 2 ở Tây Nguyên không chỉ là một thất bại quân sự. Nó là thời điểm mà tất cả những vết nứt đã tích lũy trong cấu trúc kinh tế, xã hội và quân sự của VNCH trong hai năm, từ lạm phát phi mã đến tham nhũng hệ thống đến niềm tin bị bào mòn, cùng hiện ra một lúc và cùng sụp xuống theo cái trọng lượng cộng gộp của chúng. Và khi một kết cấu đã sụp một điểm như vậy, những điểm còn lại không chịu thêm được trọng lượng mà điểm đó đang gánh, và chúng bắt đầu sụp theo từng điểm một với tốc độ ngày càng nhanh hơn. Ngày kết thúc của nền kinh tế VNCH không đến vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, nó đến sớm hơn nhiều, trong im lặng của những sổ kế toán, trong tiếng ồn của những tờ tiền được in ra không có bảo chứng, trong khoảnh khắc người lính cuối cùng quyết định rằng đi tìm vợ con quan trọng hơn giữ vũ khí. Tháng 4 năm 1975 chỉ là thời điểm phần còn lại của thế giới được chứng kiến điều mà bên trong hệ thống đã biết từ lâu.
Hòn ngọc Viễn Đông?
Lý Quang Diệu nhìn Sài Gòn những năm 1950 với một cảm xúc mà ông không che giấu trong hồi ký của mình: đó là sự ngưỡng mộ thực sự của một người lãnh đạo một hòn đảo nghèo tài nguyên, vừa tách ra khỏi Malaysia trong hoàn cảnh không mấy êm thấm, đang phải vắt óc tìm lý do để người dân tin rằng Singapore có tương lai. Sài Gòn khi đó là một trong những thành phố sầm uất và tinh tế nhất châu Á, với kiến trúc Pháp còn nguyên vẹn, với một tầng lớp trí thức và thương nhân có học vấn và thị hiếu, với cảng sông nhộn nhịp hàng hóa và những đại lộ bóng cây rợp mát. Danh xưng “Hòn ngọc Viễn Đông” không phải là sự tự phong của người Sài Gòn, mà là nhận xét của thế giới bên ngoài, trong đó có những người như Lý Quang Diệu, những người nhìn vào Sài Gòn và thấy ở đó một hình mẫu về cái mà một thành phố châu Á có thể trở thành.
Nhưng lịch sử có loại nghịch lý tàn nhẫn của riêng nó: Singapore năm 2000 là một trong những nền kinh tế thịnh vượng và bền vững nhất thế giới, còn cái thành phố mà Lý Quang Diệu từng ngưỡng mộ đã không còn tồn tại theo nghĩa kinh tế-chính trị từ năm 1975. Và nếu đọc kỹ những gì Lý Quang Diệu viết về Sài Gòn trong những năm về sau, người ta nhận ra rằng sự ngưỡng mộ ban đầu đó đã dần chuyển hóa thành một thứ phức tạp hơn nhiều: một sự xót xa pha lẫn cái nhìn thẳng thắn của người đã hiểu ra, qua chính trải nghiệm xây dựng Singapore, rằng cái Sài Gòn thập niên 1960 trông như thế nào và thực ra là thế nào là hai điều khác nhau một cách căn bản. Để hiểu tại sao, cần đặt hai thành phố cạnh nhau không phải theo cái họ trông như thế nào từ ngoài nhìn vào, mà theo cái đang xảy ra bên trong cấu trúc kinh tế của chúng cùng một thời điểm.
Trong những năm 1960, khi Sài Gòn tràn ngập hàng nhập khẩu Mỹ và tiền chi tiêu của nửa triệu lính viễn chinh, Singapore đang trải qua một trong những giai đoạn khổ cực nhất trong lịch sử non trẻ của nó. Lý Quang Diệu và nội các của ông đang thuyết phục người dân chấp nhận thắt lưng buộc bụng để đổi lấy một tương lai mà chưa ai nhìn thấy rõ hình dạng. Không có tài nguyên thiên nhiên. Không có thị trường nội địa đủ lớn. Không có lịch sử công nghiệp. Chỉ có vị trí địa lý, nguồn nhân lực, và một chính phủ sẵn sàng đưa ra những quyết định cực kỳ khó chịu về lương, về quyền lao động, về thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất thực sự thay vì các ngành thương mại và dịch vụ ăn xổi. Họ xây dựng từng khu công nghiệp một, từ Jurong Industrial Estate với những nhà máy dệt may và điện tử ban đầu còn thô sơ, rồi dần leo lên chuỗi giá trị với quyết tâm dứt khoát rằng Singapore sẽ không bao giờ có thể là một nền kinh tế sống bằng việc trở thành cảng trung chuyển thuần túy hay dịch vụ thuần túy mà không có nền tảng sản xuất thực sự làm gốc rễ.
Sài Gòn cùng thời điểm đó đi theo hướng ngược lại hoàn toàn, khi đô la Mỹ chảy vào dễ dàng qua kênh CIP với tỷ giá được trợ giá, khi tiêu dùng sinh lợi hơn sản xuất, khi nhập khẩu hàng xa xỉ mang lại lợi nhuận cao hơn đầu tư vào nhà máy, thì không có gì ngạc nhiên khi toàn bộ tầng lớp thương nhân và tư bản của miền Nam chảy về phía tiêu dùng và thương mại như nước chảy xuống chỗ thấp. Hàng hóa ngập tràn chợ đen Sài Gòn, thứ tạo ra cái hình ảnh phồn vinh hào nhoáng mà người ngoài nhìn vào và gọi là “Hòn ngọc Viễn Đông,” phần lớn không phải là sản phẩm của nền công nghiệp nội địa mà là hàng tuồn ra từ hệ thống cửa hàng PX của quân đội Mỹ, những cửa hàng miễn thuế phục vụ binh lính Mỹ mà hàng hóa từ đó không khó để rò rỉ vào thị trường dân sự qua vô số kênh phi chính thức. Đây là thứ phồn vinh được nhập khẩu theo nghĩa đen nhất có thể, không chỉ nhập khẩu hàng hóa mà còn nhập khẩu cả cái ảo giác về sự thịnh vượng. Và ảo giác, dù thuyết phục đến đâu, cũng chỉ tồn tại được chừng nào những điều kiện tạo ra nó còn duy trì.
Những chuyên gia kinh tế Mỹ trực tiếp tham gia quản lý chương trình viện trợ cho VNCH không phải là những người ngây thơ về bản chất của cái họ đang tạo ra. Một số người trong số họ đã ghi lại trong các báo cáo nội bộ, với ngôn ngữ không thể diễn dịch theo cách nào khác, rằng những gì đang diễn ra ở Sài Gòn là một “bản giao hưởng toàn quốc của trộm cắp, tham nhũng và hối lộ.” Đây không phải là lời phê phán đạo đức được viết ra từ vị trí đứng ngoài quan sát, mà là nhận xét của những người trong cuộc đang chứng kiến 26 tỷ đô la viện trợ Mỹ trong hai mươi năm không tạo ra được một nền tảng kinh tế tự lực tương xứng với quy mô đầu tư, trong khi từng đồng đô la chảy qua hệ thống đều bị rò rỉ theo nhiều hướng khác nhau trước khi đến được điểm đến lý thuyết của nó.
26 tỷ đô la trong hai mươi năm là con số cần được đặt vào đúng bối cảnh để hiểu mức độ lãng phí của nó. Đây là một lượng vốn mà nếu được đầu tư có hệ thống vào xây dựng năng lực sản xuất công nghiệp, như cách Hàn Quốc và Đài Loan đã làm với nguồn viện trợ nhỏ hơn nhiều và trong thời gian ngắn hơn, đủ để tạo ra một nền tảng công nghiệp xuất khẩu có khả năng cạnh tranh quốc tế. Thay vào đó, phần lớn số tiền đó chảy vào tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu, vào bộ máy chiến tranh, vào các kênh tham nhũng, và vào việc duy trì một mức sống đô thị nhân tạo không có nền tảng sản xuất nào chống đỡ bên dưới. Khi vòi bị khóa lại năm 1973, không có gì bên trong có thể tiếp tục chảy.
Lý Quang Diệu hiểu điều này rõ hơn hầu hết những người quan sát bên ngoài khác, vì ông đang trực tiếp xây dựng một nền kinh tế theo nguyên tắc đối lập hoàn toàn với những gì đang xảy ra ở Sài Gòn. Trong khi Sài Gòn tiêu thụ viện trợ, Singapore tích lũy năng lực. Trong khi Sài Gòn nhập khẩu hàng tiêu dùng xa xỉ, Singapore nhập khẩu công nghệ và kỹ năng quản lý. Trong khi giới thương nhân Sài Gòn tìm cách tiếp cận đô la rẻ để buôn hàng nhập khẩu, các nhà hoạch định Singapore đang nghĩ cách leo lên chuỗi giá trị toàn cầu từ vị trí thấp nhất. Và điều Lý Quang Diệu không nói ra trực tiếp nhưng rõ ràng ẩn trong cách ông đặt vấn đề trong nhiều năm về sau là: ông biết rằng cái mình từng ngưỡng mộ ở Sài Gòn không phải là sức mạnh thực sự, mà là vẻ đẹp của một hòn ngọc giả được mài giũa rất khéo. Danh xưng “Hòn ngọc Viễn Đông” vì thế không đơn giản là sự ngưỡng mộ, cũng không đơn giản là lời mỉa mai hay “nói móc” theo nghĩa có chủ đích. Nó là cái bẫy ngôn ngữ mà bất kỳ nền kinh tế hào nhoáng bề ngoài nào cũng có thể dựng lên xung quanh chính mình: khi đủ nhiều người từ đủ nhiều nơi nhìn vào và thấy ánh sáng phản chiếu, người ta ngừng hỏi xem ánh sáng đó đến từ đâu. Sài Gòn thập niên 1960 tỏa sáng bằng ánh sáng phản chiếu của 26 tỷ đô la và của nửa triệu người Mỹ tiêu tiền, và ánh sáng đó đủ chói để che đi thực tế rằng bản thân viên ngọc không phát sáng, nó chỉ phản chiếu nguồn sáng bên ngoài, và khi nguồn sáng tắt, viên ngọc trở về bóng tối.
Bài học kinh tế mà câu chuyện của VNCH để lại không phải là bài học mới, nhưng lại là bài học mà lịch sử buộc phải lặp lại với mỗi thế hệ vì nó đánh vào một điểm yếu tâm lý cực kỳ khó vượt qua của cả cá nhân lẫn tập thể: con người và xã hội có xu hướng bẩm sinh ưa chuộng sự thịnh vượng hiện tại hơn sự thịnh vượng tương lai, ưa chuộng tiêu dùng hôm nay hơn đầu tư cho ngày mai, và ưa chuộng những tín hiệu bề ngoài của sự thành công hơn là những công việc khó nhọc và vô hình của việc xây dựng năng lực thực sự. Chính phủ nào đưa ra những chính sách ưu tiên tích lũy năng lực sản xuất, kiềm chế tiêu dùng và chấp nhận hy sinh ngắn hạn, luôn đối mặt với sức cản chính trị lớn hơn so với chính phủ nào cho phép và thậm chí khuyến khích tiêu dùng tức thì. VNCH không có điều kiện lý tưởng để lựa chọn con đường khó, nhưng điều đáng suy ngẫm là ngay cả trong điều kiện không lý tưởng, sự lựa chọn vẫn luôn tồn tại ở từng mắt xích của hệ thống và ở từng quyết định chính sách cụ thể.
Hàn Quốc và Đài Loan, hai nền kinh tế mà các nhà kinh tế học phát triển thường so sánh với VNCH vì xuất phát điểm tương đồng vào đầu thập niên 1950, đã đi theo con đường mà Singapore đi, với những điều chỉnh khác nhau phù hợp với hoàn cảnh riêng. Cả ba đều nhận viện trợ Mỹ, cả ba đều trong điều kiện địa chính trị căng thẳng, cả ba đều thiếu tài nguyên thiên nhiên. Điều phân biệt họ với VNCH không phải là sự may mắn hay điều kiện ưu đãi hơn, mà là một bộ chính sách có hệ thống nhằm chuyển hóa nguồn lực ngoại lực thành năng lực nội sinh thay vì tiêu thụ nó trực tiếp. Hàn Quốc dùng viện trợ để xây khu công nghiệp nặng. Đài Loan dùng nó để xây nền nông nghiệp hiệu quả và công nghiệp vừa và nhỏ theo định hướng xuất khẩu. Singapore dùng nó để thu hút đầu tư nước ngoài vào khu vực sản xuất có giá trị gia tăng cao và xây dựng hệ thống giáo dục và hạ tầng đẳng cấp thế giới. VNCH dùng nó để mua hàng tiêu dùng. Sự đơn giản hóa đó không hoàn toàn công bằng, vì VNCH tồn tại trong điều kiện chiến tranh toàn diện mà ba nền kinh tế kia không phải chịu đựng ở mức độ tương tự. Nhưng sự đơn giản hóa đó chứa đựng một sự thật cốt lõi: kể cả trong điều kiện chiến tranh, những quyết định chính sách kinh tế căn bản vẫn được đưa ra, và những quyết định đó có hậu quả dài hạn không thể đảo ngược. Quyết định để CIP vận hành như một chương trình nhập khẩu hàng tiêu dùng thay vì buộc nó phải chảy vào đầu tư sản xuất là một quyết định chính sách có thể đã được thực hiện khác đi. Quyết định không đặt điều kiện và giám sát nghiêm ngặt với giới thương nhân nhận đô la trợ giá là một quyết định chính sách có thể đã được thực hiện khác đi. Không phải dễ dàng, nhưng có thể.
Với những nền kinh tế đang phát triển trong thế kỷ 21, câu chuyện của VNCH có một giá trị nghiên cứu đặc biệt chính vì sự rõ ràng cực đoan của nó. Không nhiều trường hợp lịch sử nào cung cấp một thí nghiệm tự nhiên sạch đến vậy về cái xảy ra khi một nền kinh tế nhận được một lượng nguồn lực ngoại lực khổng lồ trong một thời gian dài mà không xây dựng được khả năng tự vận hành song song. Kết quả, như chúng ta đã thấy qua năm phần phân tích này, không chỉ là sự sụp đổ kinh tế mà là sự sụp đổ toàn diện và đột ngột của toàn bộ hệ thống khi nguồn lực ngoại lực bị rút đi, vì không có gì bên trong đủ mạnh để hấp thụ cú sốc.
Bài học đó vẫn còn nguyên giá trị và thậm chí ngày càng thích đáng hơn trong bối cảnh của thế kỷ 21, khi nhiều quốc gia đang phát triển nhận viện trợ phát triển, vay nợ ưu đãi, hay hưởng lợi từ dòng vốn đầu tư nước ngoài lớn mà không có chiến lược rõ ràng để chuyển hóa những nguồn lực đó thành năng lực nội sinh bền vững. Câu hỏi không bao giờ là “có nhận nguồn lực bên ngoài không” mà luôn là “nhận vào rồi làm gì với nó.” Và câu trả lời đúng cho câu hỏi đó không phải là câu trả lời dễ chịu hay dễ bán cho cử tri, nhưng đó chính xác là lý do tại sao nó quan trọng đến vậy.
Sài Gòn, vào thời điểm hoàng kim nhất của nó, là một trong những thành phố đẹp và sống động nhất châu Á. Điều đó là sự thật và không nên bị phủ nhận. Nhưng vẻ đẹp đó được xây trên nền móng của kính và gương, và khi ánh sáng bên ngoài tắt, cái còn lại không phải là một thành phố đã mất đi sự thịnh vượng mà là một thành phố phát hiện ra rằng sự thịnh vượng của mình chưa bao giờ thực sự thuộc về nó. “Hòn ngọc Viễn Đông” là tên gọi đẹp nhất cho một bài học đau đớn nhất về bản chất của sự phát triển kinh tế thực sự: nó không thể được cho, không thể được nhập khẩu, và không thể được duy trì bằng ánh sáng vay mượn. Nó phải được xây dựng, từ bên trong, bằng những quyết định khó khăn và những hy sinh mà không có tên gọi hào nhoáng nào che đậy được sự nhọc nhằn thực sự của chúng. Lý Quang Diệu biết điều đó. Ông đã xây Singapore theo đúng cách đó. Và có lẽ, trong những lúc nhìn về Sài Gòn qua nhiều thập kỷ, cái ông cảm thấy không phải là sự mỉa mai của kẻ thành công nhìn lại người thất bại, mà là sự xót xa của người hiểu rõ rằng con đường đúng không bao giờ là con đường dễ, và những nền kinh tế đẹp nhất không phải là những nền kinh tế trông đẹp nhất từ bên ngoài, mà là những nền kinh tế đủ vững để đứng một mình khi không còn ai đứng bên cạnh đỡ.
Số phận?
Lịch sử kinh tế không phải là môn học của sự phán xét. Nó là môn học của sự giải thích, và sự giải thích trung thực đôi khi dẫn người ta đến những nơi mà cả người chiến thắng lẫn người thua cuộc đều không thực sự muốn đến, vì ở đó không có anh hùng và kẻ phản diện rõ ràng, không có tường tường minh nào phân chia đúng và sai, chỉ có những cấu trúc, những áp lực, những dòng chảy của tiền và quyền lực vận động theo logic riêng của chúng và nghiền nát những gì đứng trong đường đi của chúng mà không phân biệt màu cờ hay lý tưởng.
Nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa, nhìn lại sau nửa thế kỷ với đủ tài liệu và đủ khoảng cách để không còn bị cảm xúc của người trong cuộc làm nhiễu, hiện ra như một trường hợp giáo khoa về sự phụ thuộc ngoại lực được đẩy đến tận cùng giới hạn của nó. Không phải là trường hợp duy nhất trong lịch sử thế kỷ 20, nhưng là một trong những trường hợp hoàn chỉnh và rõ ràng nhất về mặt cấu trúc, vì ở đây không có yếu tố nào bị che khuất bởi sự mơ hồ của dữ liệu hay sự phức tạp của địa hình kinh tế đa cực. Mọi thứ đều hiện ra với độ tương phản cao: sự phụ thuộc cực đoan vào một nguồn viện trợ duy nhất, sự vắng mặt gần như hoàn toàn của năng lực sản xuất nội sinh, sự sụp đổ nhanh và toàn diện khi nguồn lực bên ngoài bị rút đi. Chính cái rõ ràng đó làm cho câu chuyện này có giá trị phân tích vượt ra ngoài bối cảnh địa lý và thời gian cụ thể của nó.
Nhưng phân tích kinh tế học, dù chính xác và toàn diện đến đâu, vẫn chỉ là một lớp của câu chuyện này, và nếu dừng lại ở đó thì bài viết này chưa nói hết được cái mà nó cần nói. Bên dưới tất cả những con số về lạm phát, về cán cân thương mại, về sản lượng công nghiệp sụt giảm, về quân số đào ngũ và ngân sách thâm hụt, là cuộc sống thực sự của hàng chục triệu con người đã sống qua tất cả những điều đó không phải như những biến số trong một mô hình kinh tế mà như những trải nghiệm cụ thể hàng ngày với tất cả sức nặng của chúng. Người phụ nữ đi chợ mỗi sáng và thấy giá gạo lại tăng thêm một lần nữa. Người lính nhận lương cuối tháng và đứng trước sự lựa chọn không thể giải quyết giữa gửi tiền về cho vợ con hay giữ lại để ăn. Người thương nhân quyết định găm hàng hay bán ra trong một thị trường mà ngày mai hoàn toàn không thể đoán trước. Những cá nhân đó không điều khiển lịch sử, họ bị lịch sử điều khiển, và sự phân biệt đó quan trọng hơn người ta thường thừa nhận khi nhìn lại các sự kiện từ khoảng cách nửa thế kỷ.
Có một điều mà các nhà kinh tế học và sử học đôi khi bỏ qua trong những phân tích vĩ mô, và đó là cái thực tế rằng đằng sau mỗi con số thống kê là một đời người. Con số 90.000 lao động mất việc khi Mỹ rút quân không chỉ là một dữ liệu thị trường lao động, đó là 90.000 gia đình phải tìm cách sắp xếp lại toàn bộ cuộc sống của mình trong một khoảng thời gian không có sự chuẩn bị. Con số 1,2 triệu người sống trong ổ chuột quanh Sài Gòn không chỉ là một chỉ số bất bình đẳng đô thị, đó là 1,2 triệu con người sống qua mỗi ngày trong những điều kiện mà không một hệ thống kinh tế nào, dù được gọi là gì và được tổ chức theo nguyên tắc nào, có thể tự hào khi để xảy ra. Tỷ lệ lạm phát 200% trong năm 1974 không chỉ là một điểm dữ liệu trên đường cong giá cả, đó là cái thực tế hàng ngày của hàng triệu người nhìn thấy mọi thứ họ tích lũy được đang bốc hơi trước mắt mà không có cách nào ngăn chặn.
Nền kinh tế VNCH sụp đổ, và sự sụp đổ đó có những nguyên nhân rõ ràng có thể truy nguyên và phân tích như bài luận này đã cố gắng làm trong những câu chữ ngắn ngủi. Nhưng điều cần nói thêm, và cần nói một cách thẳng thắn, là những nguyên nhân đó không bắt đầu từ sự ngu dốt hay sự ác ý của bất kỳ cá nhân hay nhóm người cụ thể nào. Chúng bắt đầu từ một cấu trúc địa chính trị mà miền Nam Việt Nam không có khả năng lựa chọn. Từ giữa thập niên 1950, mảnh đất này đã trở thành một trong những điểm nóng nhất của Chiến tranh Lạnh, một đấu trường mà tại đó hai siêu cường đang tranh giành ảnh hưởng toàn cầu bằng cách đổ nguồn lực và vũ khí vào những đại diện địa phương của mình theo một logic hoàn toàn không xuất phát từ lợi ích của người Việt ở bất kỳ phía nào.
Washington không viện trợ 26 tỷ đô la cho VNCH vì quan tâm đặc biệt đến lợi ích của người miền Nam Việt Nam. Họ làm vậy vì Việt Nam là một mảnh trong bàn cờ rộng hơn nhiều mà tại đó điều quan trọng nhất là ngăn chặn sự lan rộng của ảnh hưởng Liên Xô và Trung Quốc ở Đông Nam Á, và khi tính toán địa chính trị đó thay đổi sau Hiệp định Paris, khi chi phí chính trị nội địa của việc tiếp tục cuộc chiến vượt qua lợi ích chiến lược tính toán được, Washington rút lui với cái tốc độ và sự dứt khoát của một cường quốc đang tái tập trung nguồn lực chiến lược của mình, không phải của một đối tác đang từ bỏ một nghĩa vụ đạo đức. Đây chỉ là cách các cường quốc vận hành trong hệ thống quốc tế, cách họ đã luôn vận hành và sẽ còn tiếp tục vận hành, vì lợi ích quốc gia của cường quốc không bao giờ là lợi ích của đại diện địa phương mà họ đang hỗ trợ, và khi hai thứ đó không còn song hành với nhau, lợi ích quốc gia luôn thắng.
Phía bên kia cũng không nằm ngoài logic này. Liên Xô và Trung Quốc không viện trợ vũ khí và vật tư cho miền Bắc Việt Nam vì tình đoàn kết vô sản thuần túy. Họ làm vậy vì một Việt Nam thống nhất và nghiêng về phía mình là một lợi thế địa chiến lược trong Chiến tranh Lạnh, và họ theo đuổi lợi thế đó với sự tính toán của các cường quốc, không phải với sự hào hiệp của những người bạn thực sự. Thực tế là sau năm 1975, các mối quan hệ địa chính trị tiếp tục vận động theo logic riêng của chúng, và Việt Nam thống nhất nhanh chóng phát hiện ra rằng việc trở thành đại diện thắng cuộc của một phía trong Chiến tranh Lạnh không có nghĩa là trở thành đồng minh được đối xử bình đẳng của phía đó trong kỷ nguyên sau chiến tranh. Điều làm cho giai đoạn lịch sử này buồn ở chỗ người Việt Nam ở cả hai phía của vĩ tuyến 17 đều không thực sự là người chơi cờ trong ván cờ quyết định số phận của mình. Họ là những quân cờ, được di chuyển bởi những bàn tay mà phần lớn trong số họ chưa bao giờ gặp mặt, phục vụ những mục tiêu mà phần lớn trong số họ chưa bao giờ được hỏi ý kiến, và chịu đựng những hậu quả mà phần lớn trong số đó sẽ không bao giờ được những người di chuyển quân cờ đó gánh chịu. Người lính miền Nam chết ở một mảnh rừng Tây Nguyên không chết vì chiến lược của Washington, dù chính sách của Washington quyết định anh ta có mặt ở đó. Người dân thường ở Quảng Trị chạy loạn trong Mùa hè Đỏ lửa 1972 không chạy vì tính toán của Moscow hay Bắc Kinh, dù tính toán của họ quyết định quy mô và thời điểm của cuộc tấn công đó. Sự phân ly giữa người ra quyết định và người chịu hậu quả là một trong những đặc điểm không thể tránh khỏi của những cuộc chiến tranh ủy nhiệm, và cái sự phân ly đó, khi nhìn thấu qua tất cả lớp tường thuật ý thức hệ, là thứ đau đớn nhất trong toàn bộ câu chuyện này.
Nền kinh tế VNCH, với tất cả những điểm yếu cấu trúc của nó mà bài này đã phân tích sơ bộ, không phải là sản phẩm của sự lười biếng hay sự thiếu năng lực của người Việt miền Nam. Nó là sản phẩm của một tình huống địa chính trị đặc thù mà trong đó cái logic của viện trợ chiến tranh và cái logic của phát triển kinh tế bền vững không chỉ không song hành được với nhau mà còn tích cực cản trở nhau. Một quốc gia đang chiến đấu để sinh tồn không thể đồng thời thực hiện những cải cách kinh tế cơ cấu đau đớn mà sẽ làm giảm tiêu dùng hiện tại, gây thất nghiệp ngắn hạn và tạo ra bất ổn xã hội trong khi quân địch đang ở cách vài chục cây số. Và một nền kinh tế được thiết kế để nuôi dưỡng nỗ lực chiến tranh của một cường quốc nước ngoài không thể đồng thời được thiết kế để phát triển năng lực tự lực trong dài hạn, vì hai mục tiêu đó đòi hỏi hai bộ quyết định chính sách hoàn toàn khác nhau và đôi khi đối lập nhau. Những con người sống qua giai đoạn đó, dù ở phía nào, dù trong tầng lớp nào của xã hội, đều mang cùng một màu da và cùng một màu máu. Điều đó không phải là câu nói sáo rỗng về tình đồng bào, đó là một thực tế sinh học và văn hóa mà không có bất kỳ đường phân chia địa chính trị nào có thể thực sự xóa bỏ. Người lính VNCH đào ngũ vì không nuôi được vợ con và người cán bộ miền Bắc hành quân vào Nam qua những tháng năm gian khổ đều là những người đàn ông Việt Nam trong độ tuổi đáng lẽ phải đang xây dựng cuộc đời của mình thay vì đang ở trong chiến tranh. Người phụ nữ Sài Gòn đứng trước quầy hàng và thấy giá gạo vượt qua ngưỡng gia đình có thể chịu đựng và người phụ nữ Hà Nội chịu đựng những đợt bom B-52 trong những đêm cuối năm 1972 đều đang chịu đựng những thứ mà cả hai siêu cường ngồi trong các văn phòng ấm áp ở Washington và Moscow không phải trả bất kỳ giá nào tương đương.
Sự hào nhoáng của Sài Gòn thập niên 1960, cái đã được gọi là “Hòn ngọc Viễn Đông” với sự ngưỡng mộ thực sự của nhiều người quan sát nước ngoài, và cái sụp đổ tan tành của nó vào năm 1975, không phải là hai cực đối lập của một câu chuyện về thành công và thất bại. Chúng là hai mặt của cùng một thực tế: thực tế của một quốc gia nhỏ bị đặt vào trung tâm của một cạnh tranh địa chính trị lớn hơn khả năng tự quyết định của nó rất nhiều, và buộc phải vận hành theo những logic được áp đặt từ bên ngoài thay vì được phát triển từ bên trong. Cái hào nhoáng là hào nhoáng vay mượn. Cái sụp đổ là sụp đổ tất yếu. Và không có năng lực hay ý chí cá nhân nào có thể thay đổi được những cấu trúc vĩ mô đang vận hành ở tầm độ lớn hơn nhiều so với những gì bất kỳ cá nhân hay nhóm lãnh đạo nào có thể kiểm soát.
Lịch sử không có tòa án tối cao để phán xử và không có hệ thống kháng án cho những người cho rằng mình bị xử oan. Nó chỉ có những gì đã xảy ra, những nguyên nhân có thể truy nguyên, và những hậu quả còn đang tiếp diễn. Nền kinh tế của Việt Nam Cộng hòa đã tồn tại trong hai mươi năm, đã nuôi sống hàng chục triệu người với mức độ thành công không đồng đều và với những mâu thuẫn nội tại không bao giờ được giải quyết, rồi sụp đổ trong vòng chưa đầy ba năm khi những điều kiện bên ngoài tạo ra nó thay đổi. Đó là sự thật. Toàn bộ sự thật phức tạp hơn bất kỳ tường thuật đơn giản nào, dù là tường thuật của phe chiến thắng hay của phe thua cuộc, có thể chứa đựng được, và sự phức tạp đó không phải là thứ cần được giải quyết hay đơn giản hóa mà là thứ cần được nhìn nhận và giữ nguyên trong toàn bộ sự phức tạp của nó, vì đó là cách duy nhất thực sự tôn trọng những cuộc đời đã sống trong nó.
Những người đã sống qua giai đoạn đó, những người đã già đi hay đã mất đi trong nửa thế kỷ vừa qua, không cần chúng ta phán xét họ. Họ cần chúng ta hiểu họ, và hiểu đúng, không phải theo nghĩa đưa ra kết luận cuối cùng về ai phải ai trái, mà theo nghĩa nhìn thấy đủ đầy những gì họ đã đối mặt trong hoàn cảnh mà không ai trong số chúng ta, những người được sinh ra sau khi lịch sử đã ngã ngũ, có thể tưởng tượng đầy đủ được. Đó là điều ít nhất mà lịch sử nợ họ, và là điều ít nhất mà thế hệ sau nợ lịch sử.
Bài viết được tham khảo từ các cuốn sách, nguồn sau:
- Gabriel Kolko, Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modern Historical Experience, Pantheon Books, 1985
- Frances FitzGerald, Fire in the Lake: The Vietnamese and the Americans in Vietnam, Atlantic-Little Brown, 1972
- Nguyễn Tiến Hưng & Jerrold Schecter, The Palace File, Harper & Row, 1986
- Nguyễn Tiến Hưng, Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh xuất bản, 2005
- Frank Snepp, Decent Interval: An Insider’s Account of Saigon’s Indecent End, Random House, 1977
- Neil Sheehan, A Bright Shining Lie: John Paul Vann and America in Vietnam, Random House, 1988
- Stanley Karnow, Vietnam: A History, Viking Press, 1983
- David Halberstam, The Best and the Brightest, Random House, 1972
- Arnold Isaacs, Without Honor: Defeat in Vietnam and Cambodia, Johns Hopkins University Press, 1983
- Robert Sansom, The Economics of Insurgency in the Mekong Delta of Vietnam, MIT Press, 1970
- Charles Callison, Land-to-the-Tiller in the Mekong Delta: Economic, Social and Political Effects, University Press of America, 1974
- Jeffrey Clarke, Advice and Support: The Final Years, 1965–1973, U.S. Army Center of Military History, 1988
- Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, Harcourt Brace, 1999
- James Willbanks, Abandoning Vietnam: How America Left and South Vietnam Lost Its War, University Press of Kansas, 2004
- Robert Brigham, ARVN: Life and Death in the South Vietnamese Army, University Press of Kansas, 2006
- David Elliott, The Vietnamese War: Revolution and Social Change in the Mekong Delta 1930–1975, M.E. Sharpe, 2003
- Marilyn Young, The Vietnam Wars 1945–1990, HarperCollins, 1991
- Cao Văn Viên, The Final Collapse, U.S. Army Center of Military History, 1983
- Bùi Diễm & David Chanoff, In the Jaws of History, Houghton Mifflin, 1987
- Trần Văn Đôn, Our Endless War: Inside Vietnam, Presidio Press, 1978
- William Colby & James McCargar, Lost Victory: A Firsthand Account of America’s Sixteen-Year Involvement in Vietnam, Contemporary Books, 1989
- Douglas Pike, PAVN: People’s Army of Vietnam, Presidio Press, 1986
- Andrew Wiest, Vietnam’s Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN, New York University Press, 2008
- Lý Quang Diệu, From Third World to First: The Singapore Story 1965–2000, HarperCollins, 2000
- The Pentagon Papers, giải mật và xuất bản bởi The New York Times, Bantam Books, 1971
- Hồ sơ giải mật của CIA về tình hình kinh tế và chính trị miền Nam Việt Nam giai đoạn 1973–1975, Central Intelligence Agency FOIA Reading Room
- Báo cáo và tài liệu nội bộ của USAID Vietnam Program, lưu trữ tại U.S. National Archives, 1965–1975
- Ngo Vinh Long, Before the Revolution: The Vietnamese Peasants Under the French, MIT Press, 1973
- Hoàng Ngọc Lung, Strategy and Tactics, U.S. Army Center of Military History, 1980
- Nguyễn Cao Kỳ, Twenty Years and Twenty Days, Stein and Day, 1976

Để lại một bình luận