Nhật Bản - Kỳ tích được đánh đổi bằng những thứ không thể hoàn trả
Tháng 7 năm 1853, bốn chiến hạm của Đô đốc Matthew Perry lướt vào vịnh Edo. Người Nhật gọi chúng là kurofune, tàu đen, vì thân tàu sơn đen và khói than phủ kín cả khoảng trời phía trên. Những khẩu pháo trên tàu nổ chào như một lời cảnh cáo, tiếng vang dội vào bờ không giống bất kì một âm thanh nào trong hai thế kỷ phong bế từng chuẩn bị cho người Nhật. Dân chài ở Uraga bỏ lưới cá chạy, quan lại vội vã phi ngựa về kinh. Và đâu đó ở Edo, trong những căn phòng kín, nơi mà những quyết định số phận của một quốc gia được đưa ra bằng giọng thì thầm sau những tấm màn, người ta bắt đầu nhận ra rằng thế giới đã thay đổi từ lúc nào không hay, còn Nhật Bản đang đứng ngoài cuộc bể dâu đó với đôi bàn tay trắng bệt.
Nỗi sợ trước sức mạnh quân sự chỉ là một nửa. Phần còn lại ắt hẳn là sự sỉ nhục. Suốt hơn hai trăm năm dưới chế độ Mạc phủ Tokugawa, Nhật Bản đã sống trong một trạng thái gần như hoàn hảo theo chủ nghĩa phong kiến: trật tự nghiêm ngặt, giai cấp bất biến, và sự biệt lập với thế giới bên ngoài được nâng lên thành triết học quốc gia. Samurai cầm kiếm, nông dân cày ruộng, thương nhân ở tầng dưới cùng của thang bậc xã hội. Mọi thứ có chỗ của nó, và chỗ của Nhật Bản là đứng một mình, tách biệt, tự đủ. Bốn chiếc tàu lớn đến và chứng minh rằng sự tự đủ đó chỉ là ảo tưởng của kẻ chưa từng bị sức mạnh khác chạm đến.
Người Trung Quốc, anh cả văn hóa của cả vùng Đông Á, đã bị người Anh đánh bại trong Chiến tranh Nha phiến năm 1842, buộc phải ký Hiệp ước Nam Kinh và nhường Hồng Kông một cách nhục nhã. Ấn Độ đang trở thành thuộc địa của Anh Quốc. Khắp nơi ở châu Á, các đế chế cũ kỹ lần lượt ngã xuống trước họng súng của phương Tây, và Nhật Bản nhìn vào đó như nhìn vào một tấm gương, thấy được tương lai của chính mình nếu không chịu thay đổi. Thay đổi là chắc chắn. Còn thay đổi đến mức nào, và ai là người sẽ trả giá cho nó, đó mới là điều chưa ai được biết. Năm 1868, khi Thiên hoàng Meiji chính thức lên ngôi và bắt đầu cuộc cải cách mang tên ông, không ai biết rằng họ đang chứng kiến một trong những thí nghiệm xã hội táo bạo nhất trong lịch sử nhân loại. Trong vòng chưa đầy ba mươi năm, một quốc gia phong kiến quyết định tự xé bỏ chính mình từ gốc rễ và tái sinh theo một khuôn mẫu hoàn toàn xa lạ. Không có áp lực bên ngoài buộc họ phải thay đổi từng bước, ngược lại là do bản thân họ tự lựa chọn. Và chính điều này làm cho những gì xảy ra sau đó vừa hùng tráng vừa bi thảm, vừa tàn nhẫn, phải nói là khó tìm được trong bất kỳ cuộc cách mạng nào khác.
Tầng lớp Samurai là nơi vết thương đầu tiên, sâu và đau nhất nhất đổ xuống. Trong trật tự Tokugawa, Samurai không chỉ là chiến binh, họ là bộ xương của xã hội Nhật, là tầng lớp nắm giữ vũ lực và cả đạo đức, văn hóa, bản sắc quốc gia. Thanh kiếm katana họ đeo bên hông không đơn giản là vũ khí. Đó là biểu tượng của bushido, của danh dự, của cái cách một con người Nhật Bản đúng nghĩa phải đứng trước thế giới. Khi triều đình Minh Trị ban hành Haitorei năm 1876 - sắc lệnh cấm mang kiếm nơi công cộng, đồng nghĩa họ đã tước đi không phải thanh kiếm mà là cái lý do tồn tại của cả một tầng lớp. Những người Samurai thức dậy vào một buổi sáng và nhận ra rằng cái thứ đã định nghĩa họ qua bao thế hệ từ nay lại trở thành phi pháp.
Nhiều người cố thích nghi. Họ cởi bỏ áo giáp, mặc vest phương Tây, học tiếng Anh, trở thành quan chức, công chức, doanh nhân trong cỗ máy nhà nước hiện đại mà chính bản thân họ chưa bao giờ thật sự hiểu về chúng. Nhưng cũng có những người không thể hoà nhập và không muốn đi con đường đó.
Saigo Takamori là người đại diện cho phần linh hồn Nhật Bản từ chối bị thay thế. Ông từng là một trong những trụ cột của Duy Tân Minh Trị, một chiến binh và nhà lãnh đạo được kính nể. Nhưng khi nhìn thấy đồng bào Samurai của mình bị tước quyền, bị xóa khỏi lịch sử đang viết lại, ông không thể ngồi yên. Năm 1877, ông dẫn đầu cuộc nổi dậy Satsuma với mười lăm nghìn Samurai theo sau, tiến vào trận chiến cuối cùng vì ông đã cho rằng có những thứ đáng để chết vì nó hơn là sống với sự phản bội chính mình. Và họ thua. Tất nhiên là phải thua trước đội quân conscript được trang bị súng trường hiện đại, kiếm katana chỉ còn là thơ ca trong gang tấc. Saigo tử thương trên đồi Shiroyama ở Kagoshima, và cùng ông, một thế giới cũ đã vĩnh viễn khép lại không bao giờ mở ra một lần nào nữa.

Nhưng lịch sử thường hay tập trung vào những người cầm kiếm và bỏ qua những con người cầm cuốc. Trong khi câu chuyện về Samurai được kể đi kể lại với giọng bi hùng, cuộc đời của người nông dân Nhật Bản dưới Duy Tân Minh Trị gần như không được nhắc đến đủ nhiều. Cải cách thuế đất năm 1873 là một trong những quyết sách quan trọng nhất của chính phủ Minh Trị, và cũng là một trong những gánh nặng tàn nhẫn nhất đặt lên vai người dân bình thường. Thay vì nộp thuế bằng gạo như thời Mạc phủ, nông dân giờ phải nộp bằng tiền mặt, tương đương ba phần trăm giá trị đất, bất kể năm đó mùa vụ ra sao. Vụ mất mùa không còn là lý do được chấp nhận. Nhà nước cần tiền để mua tàu chiến, xây nhà máy, gửi sinh viên sang châu Âu học kỹ thuật, và tiền đó phải đến từ đâu đó. Tất nhiên là nó đến từ làng quê đầu tiên.
Hàng triệu nông dân phải bán đi mảnh đất nhỏ của mình vì không trả nổi sưu thuế. Họ trở thành tá điền trên mảnh đất từng là của cha ông, rồi tiếp tục đóng thuế qua tầng lớp địa chủ mới hình thành. Nạn đói năm 1883 đến 1884 giết chết hàng chục ngàn người ở vùng nông thôn trong khi chính phủ Meiji vẫn đang xuất khẩu gạo để đổi lấy ngoại tệ phục vụ công nghiệp hóa.
Và rồi đến những cô gái...
Khi nhà máy tơ lụa Tomioka mở cửa năm 1872, đó là biểu tượng của hiện đại hóa: công trình Pháp thiết kế, máy móc Pháp vận hành, niềm tự hào của Nhật Bản trong mắt phương Tây. Bên trong những bức tường gạch đỏ đó là hàng ngàn thiếu nữ từ mười ba đến mười bảy tuổi, con cái của những gia đình nông thôn nghèo đến nỗi họ không còn lựa chọn nào khác. Họ làm việc mười hai đến mười bốn giờ mỗi ngày trong hơi nóng tỏa ra từ những nồi ươm tơ, ngón tay nhúng trong nước sôi để tìm đầu mối của sợi tơ. Một ký tơ thô đủ phẩm chất xuất khẩu sang Lyon và Manchester đổi lấy đồng lương rẻ mạt, chỉ đủ sống sót, và phần lớn trong số đó còn bị khấu trừ vào tiền ăn, tiền ở trong ký túc xá nhà máy. Những người phụ nữ này tuyệt đối không có tên trong bất kỳ cuốn sách lịch sử nào. Nhưng chính đồng ngoại tệ từ tơ lụa họ dệt ra đã tài trợ cho việc Nhật Bản mua súng Krupp, đóng tàu chiến, và gửi kỹ sư sang Berlin học luyện thép. Kỳ tích công nghiệp Minh Trị được dệt từ đôi bàn tay bỏng rát của họ, nhưng họ lại không có mặt trong bất kỳ bức tranh khải hoàn nào.
Nghĩa vụ quân sự bắt buộc năm 1873 được người dân gọi là ketsuzeicho, thuế máu, và cái tên đó chính xác đến mức không cần phải giải thích thêm. Những đứa con trai của tầng lớp nông dân, những người lẽ ra sẽ cày bừa và phụ giúp gánh vác gia đình, giờ bị gọi đi lính ba năm, rồi tiếp tục ở trong lực lượng dự bị. Khi chiến tranh Nhật Nga nổ ra năm 1904, hơn một triệu thanh niên Nhật mặc đồng phục của một nhà nước hiện đại mà cha ông họ chưa bao giờ chọn lựa, chiến đấu và chết trên những chiến trường mà họ không hiểu vì lý do gì ngoài sắc lệnh từ Tokyo.
Nhìn thẳng vào thì Duy Tân Minh Trị là một cuộc trưng thu vĩ đại. Nhà nước trưng thu kiếm của Samurai, trưng thu đất của nông dân, trưng thu thân xác những đứa con trai, trưng thu đôi tay của những cô gái trẻ, và trưng thu tất cả để đổ vào một dự án đầy mạo hiểm mà chỉ giai cấp thống trị và có lẽ đến thế hệ tương lai mới được hưởng quả ngọt. Triết lý đứng sau cuộc trưng thu đó được gói gọn trong bốn chữ Phú quốc cường binh - nước giàu quân mạnh. Không phải dân giàu. Không phải người dân có cuộc sống tốt hơn. Mà là quốc gia giàu, quân đội mạnh. Sự phân biệt đó không hề nhỏ, và những người sống qua thời Minh Trị mới cảm nhận được nó bằng từng bữa cơm thiếu, từng đêm không ngủ trong ký túc xá nhà máy, từng giờ đứng dưới cờ quân đội học cách cầm súng thay vì cầm cuốc.
Nhưng lịch sử không phải tòa án phán xét thiện ác. Thứ Nhật Bản đang chống chọi vào năm 1868 là nguy cơ tan biến hoàn toàn, đúng theo nghĩa đen, như những gì đang xảy ra ở Ấn Độ, ở Đông Nam Á, ở châu Phi. Lựa chọn không phải giữa khốn khổ và sung sướng. Nó là giữa đau đớn có kiểm soát và bị nghiền nát bởi người khác. Người Nhật chọn tự nghiền nát mình trước, theo cách của mình, với hy vọng rằng từ đống tro tàn đó sẽ mọc lên thứ gì đó đủ mạnh để tồn tại. Saigo Takamori chết trên đồi Shiroyama năm 1877. Đến năm 1905, Nhật Bản đánh bại Đế quốc Nga, cú sốc lớn nhất mà một cường quốc phương Tây nhận từ châu Á trong thời hiện đại. Từ kurofune đến trận Tsushima chỉ mất năm mươi năm. Nhưng giữa hai mốc đó là cả một thế hệ người Nhật đã sống, làm việc và chết đi để cái kỳ tích đó trở thành hiện thực, mà những cái tên của họ không được ai nhớ đến, một lần nữa tôi phải nhắc lại điều này, bởi vì họ là những người hùng vô danh thực sự.
Và đó là cách những nền văn minh được xây dựng. Bằng những người vô danh không được lựa chọn số phận của chính bản thân mình.
Phép màu kinh tế xây trên tro tàn và độc chất
Năm 1956, một bé gái hai tuổi ở thị trấn Minamata được cha mẹ đưa đến bệnh viện Chisso vì không thể đi thẳng được, không thể nhai được và cũng không thể nói rõ chữ. Các bác sĩ cũng không biết gọi tên bệnh này là gì. Vài tuần sau, em gái của đứa bé đó cũng có những triệu chứng tương tự. Rồi những đứa trẻ hàng xóm. Rồi tới hàng loạt người lớn trong xóm chài ven vịnh Shiranui. Người ta co giật, mất kiểm soát tay chân, mắt mờ dần, tai điếc dần, rồi không còn nhận ra con cái, vợ chồng mình. Có người mù hoàn toàn trước khi chết. Có người sống sót nhưng ngồi yên một chỗ suốt ba mươi năm, không thể tự ăn, không thể tự vệ sinh, thân xác còn đó mà con người dường như đã đi đâu mất từ lâu.
Người dân Minamata không hề biết rằng công ty Chisso, nhà máy hóa chất lớn nhất vùng, đã đổ metyl thủy ngân vào vịnh từ năm 1932. Suốt hơn hai mươi năm, chất độc tích lũy trong cá, trong tôm, trong rong biển, và người dân ăn cá mỗi ngày vì đó là thứ duy nhất họ có thể kiếm được từ biển cả. Hệ thần kinh trung ương của con người không có cái cách nào để chống lại metyl thủy ngân. Nó đi thẳng vào não, phá hủy từng tế bào một cách chậm rãi và không thể cứu vãn. Những đứa trẻ sinh ra từ những bà mẹ đã nhiễm độc mang khuyết tật bẩm sinh nặng nề, cơ thể vặn vẹo, trí tuệ tổn thương vĩnh viễn, mặc dù chính bà mẹ trông bề ngoài vẫn còn khỏe mạnh. bởi vì thai nhi đã hút hết lượng thủy ngân từ cơ thể người mẹ như một tấm lọc sinh học bi thảm.
Chisso biết. Chính quyền tỉnh Kumamoto cũng biết. Bộ Y tế biết. Và tất cả đã lựa chọn im lặng.
Tháng 8 năm 1945, hai quả bom nguyên tử xóa sổ Hiroshima và Nagasaki. Sáu mươi bảy thành phố lớn đã bị ném bom trước đó. GDP đầu người tụt về mức đầu thế kỷ. Ba triệu người chết, đất nước tan hoang, và quân đội chiếm đóng của Mỹ đang kiểm soát từng quyết định chính trị một. Người dân Nhật lúc đó không có nhiều thứ để bám vào ngoài ý chí sống sót và lòng kiêu hãnh bị dồn nén thành một thứ gì đó gần với tuyệt vọng. Thủ tướng Yoshida Shigeru đọc vị tình thế đó và đưa ra một lựa chọn thực dụng và đầy lạnh lùng. Nhật Bản sẽ không tái vũ trang, sẽ không đối đầu địa chính trị, sẽ đứng sau lưng người Mỹ về mọi thứ liên quan đến quân sự và ngoại giao. Đổi lại, toàn bộ nguồn lực quốc gia, từ ngân sách nhà nước đến ý chí tập thể của cả dân tộc, sẽ đổ vào một thứ duy nhất: tăng trưởng kinh tế. Học thuyết mang tên ông không dài, không phức tạp, nó chỉ nói rằng trong thế giới hậu chiến, sức mạnh thực sự không đến từ đại bác mà từ GDP, và Nhật Bản sẽ chiến thắng bằng cách đó.
MITI, Bộ Công Thương và Công nghiệp, trở thành bộ não điều phối cỗ máy khổng lồ đó. Họ chọn ngành thép, đóng tàu, hóa dầu, điện tử làm mũi nhọn. Vốn ngân hàng được bơm vào những công ty được chọn với lãi suất ưu đãi. Quy định môi trường, nếu có thì chỉ tồn tại trên giấy hơn là trong thực tế. Và các tập đoàn công nghiệp lớn, những zaibatsu được tái cơ cấu thành keiretsu sau khi Mỹ giải thể cấu trúc cũ, hiểu rõ một điều: nhà nước cần tăng trưởng, và họ là người tạo ra tăng trưởng, nên họ có thể làm gần như bất cứ điều gì miễn là số liệu GDP của Nhật Bản tiếp tục đi lên.
Chisso ở Minamata là ví dụ điển hình của loại logic đó. Nhà máy hóa chất này sản xuất phân bón, nhựa, axetaldehyde, những thứ thiết yếu cho nền công nghiệp non trẻ của Nhật Bản đang cần mọi thứ cùng một lúc. Chisso không chỉ là một công ty. Ở Minamata, Chisso là người trả lương cho phân nửa dân số, đóng thuế chiếm phần lớn ngân sách địa phương, và tài trợ cho cả bệnh viện, trường học, đường xá. Khi bệnh lạ bắt đầu xuất hiện và một số bác sĩ của chính Chisso bắt đầu nghi ngờ mối liên hệ với nước thải nhà máy, ban quản lý ra lệnh giữ bí mật kết quả nghiên cứu và đóng cửa phòng thí nghiệm nội bộ. Đến năm 1959, một ủy ban độc lập của Đại học Kumamoto mới công bố kết luận: thủy ngân hữu cơ trong nước thải của Chisso là nguyên nhân của bệnh Minamata. Phản ứng của chính quyền vào thời điểm đó không phải là đóng cửa nhà máy. Mà họ chọn lựa gây áp lực lên ủy ban, làm chậm quá trình điều tra, và để Chisso tiếp tục xả thải thêm mười hai năm nữa cho đến năm 1968, khi nhà máy đã chuyển sang quy trình sản xuất mới không còn tạo ra metyl thủy ngân, mới chính thức thừa nhận mọi thứ.
Trong mười hai năm đó, thêm hàng ngàn người bị nhiễm độc.
Minamata không phải thảm họa duy nhất, nó chỉ là thảm họa được biết đến nhiều nhất, một phần nhờ nhiếp ảnh gia W. Eugene Smith và người vợ Aileen, những người đến Minamata vào đầu thập niên 1970 và dành ba năm sống cùng với người dân để ghi lại những gì ngôn từ không đủ khả năng để diễn đạt. Bức ảnh Tomoko Uemura trong bồn tắm, một người mẹ nâng đứa con gái dị tật của mình trong làn nước ấm với đôi mắt nhắm nhẹ và vẻ mặt như Madonna trong bức Pietà, trở thành một trong những bức ảnh ám ảnh nhất của thế kỷ hai mươi. Nhưng trước khi Smith đến, trước khi thế giới biết đến thì người dân Minamata đã chiến đấu một mình trong nhiều năm qua, bị chính quyền địa phương phớt lờ, bị hàng xóm kỳ thị vì sợ lây bệnh, và bị chính những người cùng làng đang làm việc ở Chisso xa lánh vì sợ rằng nếu nhà máy bị đóng cửa thì cả thị trấn sẽ phải chết đói.

Tập đoàn Mitsui biết trước thảm kịch này từ năm 1946. Kết quả kiểm tra nội bộ lúc đó rành rành cảnh báo: nguồn nước đã nhiễm cadmium ở mức nguy hiểm. Nhưng họ lại lựa chọn im lặng làm ngơ. Không một lời thông báo, không một lệnh ngừng xả thải, những hầm mỏ vẫn vận hành đều đặn trong khi hàng trăm sinh mạng ở hạ lưu đang âm thầm chết dần chết mòn. Sự thờ ơ của chính quyền tỉnh Toyama chỉ kết thúc khi làn sóng phẫn nộ từ báo chí và các nhóm dân sự dâng cao đến mức không thể nhắm mắt làm ngơ nữa. Ngay cả khi công lý gọi tên vào năm 1971 với phán quyết bắt buộc bồi thường, Mitsui vẫn ngoan cố kháng cáo, kéo dài sự dây dưa cho đến tận năm 1972.
Nhưng nếu ở Toyama người ta còn đếm được những người nằm xuống, thì tại vịnh Dokai ở Kitakyushu, cái chết lại hiện hình theo cách thầm lặng hơn. Ở đó không có tên nạn nhân nào trong hồ sơ pháp lý, bởi chẳng ai tìm được một sự kiện đơn lẻ nào để quy trách nhiệm. Thay vào đó, chính vùng vịnh bị bức tử. Suốt thập niên 1950 và 1960, các nhà máy thép, hóa chất và lò luyện kim san sát dọc bờ vịnh thản nhiên tháo cống chất thải trực tiếp ra dòng nước. Nước vịnh chuyển từ đỏ ngầu sang màu đen đặc, cá tôm tuyệt diệt, bọt hóa chất dạt vào bờ dày đặc đến mức trẻ con vô tư xúc làm đồ chơi. Người dân địa phương cay đắng gọi nơi này là Shikai - Biển Chết. Không một chút ẩn dụ. Vùng vịnh ấy phải chết, một cái chết tức tưởi để đổi lấy chiếc vương miện cường quốc thép lớn thứ hai thế giới của Nhật Bản vào năm 1960.
Điều tối tăm nhất của những thảm kịch này không chỉ nằm ở số người chết, mà ở chỗ khi chính phủ và các tập đoàn lớn đứng cùng một chiến tuyến, còn người dân bị đẩy vào thế cô độc tuyệt đối. Giữa guồng quay điên cuồng của thời kỳ hậu chiến, quyền lực nhà nước và sức mạnh tư bản hòa làm một thay vì kiềm chế lẫn nhau, họ là đồng phạm trong một ván cược có tên là "Phép màu Nhật Bản". Sợi dây liên kết ấy vận hành trơn tru nhờ hiện tượng amakudari - "giáng trần" - đưa các quan chức MITI kỳ cựu bước thẳng từ cơ quan quản lý vào ban lãnh đạo doanh nghiệp ngay sau khi rời ghế công sở. Khi kẻ thực thi luật pháp và kẻ vận hành dòng tiền ngồi chung một chiếc thuyền, việc bao che cho nhau trở thành điều hiển nhiên.
Năm 1959, những nạn nhân khốn cùng của thảm họa thủy ngân rồng rắn kéo đến Chisso đòi bồi thường. Tập đoàn này chìa ra những đồng tiền bố thí kèm một điều khoản triệt buộc: ký vào đây và im lặng mãi mãi. Những con người kiệt quệ đặt bút ký, không phải vì họ đồng ý mà vì đã cạn kiệt sức lực để chiến đấu. Trong một thị trấn mà Chisso là bầu sữa nuôi sống tất cả, từ pháp luật đến lòng người xung quanh đều đang quay lưng lại với họ. Họ hoàn toàn bị bỏ rơi trong chính quê hương mình.
Các phóng viên viết về Minamata bị dọa nạt. Bác sĩ công bố nghiên cứu kết nối thủy ngân với bệnh tật bị gây áp lực từ bệnh viện và trường đại học nơi họ làm việc. Ủy ban điều tra chính phủ bị giải tán trước khi đưa ra kết luận. Và trong khi tất cả những điều đó xảy ra, những con số tăng trưởng GDP tiếp tục được đọc ra rả trên đài phát thanh như bản tin chiến thắng, mười phần trăm một năm, mười hai phần trăm, mười phần trăm, năm này qua năm khác, như thể con số đó là bằng chứng cho tất cả người dân thấy rằng mọi thứ đang đi đúng hướng.
Và rồi thì Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới năm 1968, vượt qua Tây Đức. Cùng năm đó, chính phủ mới chính thức thừa nhận bệnh Minamata là do ô nhiễm công nghiệp, mười hai năm sau khi ca bệnh đầu tiên được ghi nhận. Sự trùng hợp của hai sự kiện đó trong cùng một năm không phải ngẫu nhiên. Khi đã đủ giàu, khi đã đứng vững trên bục, Nhật Bản mới có thể cho phép mình "nhìn lại" những gì đã đổ xuống để làm nền móng. Nhưng nhìn lại không phải thừa nhận theo ý nghĩa đầy đủ nhất của từ đó. Phán quyết từ tòa án đến muộn, bồi thường còn đến muộn hơn, và với nhiều nạn nhân thì mọi thứ đến sau khi họ đã không còn nhận thức được gì nữa. Bệnh Minamata chính thức được công nhận năm 1968, nhưng cuộc chiến pháp lý của người bệnh kéo dài đến tận năm 2004, khi Tòa án Tối cao Nhật Bản ra phán quyết cuối cùng buộc chính phủ phải chịu trách nhiệm vì đã chậm trễ trong việc bảo vệ người dân. Gần nửa thế kỷ từ lúc đứa bé gái hai tuổi được đưa đến bệnh viện cho đến lúc nhà nước nhìn nhận rằng họ đã phạm sai lầm. Và những người thực thi pháp luật năm đó cũng đã không còn sống để phải nhận lấy bất kỳ trách nhiệm nào.
Những ngư dân ở Minamata, những nông dân bên sông Jinzu, những người dân sống quanh vịnh Dokai - họ không phải ngoại lệ hay tai nạn trong mô hình tăng trưởng Nhật Bản. Họ là chi phí được ngầm tính vào phương trình mà không ai nói ra thành lời. Phép màu kinh tế cần nhiên liệu, và nhiên liệu đó không chỉ là than và dầu. Nó là sức khỏe, là tuổi thọ, là hệ thần kinh và bộ xương của những người không có đủ quyền lực để nói lời từ chối. Mỗi tấn thép xuất khẩu, mỗi con tàu hạ thủy, mỗi điểm phần trăm tăng trưởng được đọc lên với giọng tự hào trên radio Nhật Bản, đứng sau những thứ đó là một phần của thứ gì đó không thể nào bù đắp. Những năm sống lành mạnh của người khác. Những đứa trẻ sinh ra với thân xác không nguyên vẹn. Những người đàn bà chết trong đau đớn trong khi nước sông bên cạnh nhà họ chở theo sự thịnh vượng cho những con người ở một nơi xa lạ khác.
Người ta gọi đó là phép màu. Nhưng phép màu nào cũng cần một lời thần chú, và lời thần chú của Nhật Bản trong ba mươi năm đó, được đọc thầm mà không bao giờ nói thành lời, nôm na là: cứ tăng trưởng đi, còn lại tính sau.
Những bánh răng của thời đại - "Karoshi" và sự tàn lụi của chủ nghĩa cá nhân
Sáu giờ sáng bước ra khỏi cửa, nửa đêm dật dờ bò về nhà, sáu ngày một tuần, ròng rã suốt mười một năm tại một công ty quảng cáo ở Tokyo. Đó là cái giá mà ông Kaoru Ogasawara phải trả. Trong ngần ấy năm, đứa con trai lớn lên từ tiểu học, trung học rồi bước thẳng vào đại học, mà hoàn toàn vắng bóng người cha. Chẳng ai khát khao hay lựa chọn một cuộc đời như thế. Nhưng đứng dậy rời văn phòng trước chín giờ tối khi mà các đồng nghiệp khác vẫn gục đầu bên bàn làm việc là một điều không tưởng về mặt xã hội. Không một dòng nội quy nào cấm đoán, nhưng ông biết, sếp ông biết, và người vợ một mình nuôi con ở nhà cũng biết rõ. Họ buộc phải chấp nhận, một sự thỏa hiệp câm lặng không bao giờ được phép gọi thành tên. Câu chuyện của Ogasawara chẳng có gì đặc biệt trong xã hội Nhật Bản thời điểm đó, và chính sự bình thường ấy mới là điều đáng sợ.
Suốt các thập niên từ 1970 đến 1990, khi Nhật Bản đứng trên đỉnh cao của phép màu kinh tế, có một giai cấp đang gồng mình nạp nhiên liệu cho cỗ máy khổng lồ đó từ bên trong. Người ta gọi họ là salaryman, tức là những người đàn ông đóng bộ vest tối màu, thắt cà vạt, tay xách cặp da, chen chúc đến ngạt thở trên tuyến tàu Yamanote lúc bảy giờ sáng rồi lại vạ vật trở về nhà lúc mười một giờ đêm. Họ được ca tụng là biểu tượng của sự phồn vinh, là công thần đưa quốc gia đi chinh phục thế giới bằng năng suất lao động điên cuồng. Nhưng hãy nhìn kỹ vào khuôn mặt họ trên những chuyến tàu muộn, những người đàn ông gục đầu ngủ mê mệt giữa hai ga tàu, với chiếc cà vạt xộc xệch và mái tóc đã bắt đầu thưa thớt. Những thứ hiện lên ở đó không phải niềm vinh quang của kẻ chiến thắng.
Hệ thống này được xây dựng để tạo ra sự trung thành tuyệt đối, và nó thành công một cách đáng sợ. Shūshin koyō, tuyển dụng trọn đời, là xương sống của văn hóa doanh nghiệp Nhật Bản thời hoàng kim. Sinh viên đại học tốt nghiệp, gia nhập một công ty hay tập đoàn lớn qua một quy trình tuyển dụng khắt khe đến mức gần như nghi lễ, và từ đó gắn bó với công ty cho đến ngày về hưu. Không nhảy việc. Không đàm phán lương với công ty khác. Không phá vỡ lòng trung thành. Đổi lại, công ty bảo đảm công ăn việc làm suốt đời, thăng tiến theo thâm niên, và một mạng lưới an sinh xã hội nằm hoàn toàn bên trong tập đoàn, từ nhà ở được trợ cấp, câu lạc bộ thể thao, đến chuyến du lịch hàng năm cùng đồng nghiệp thay vì cùng gia đình. Hệ thống đó hình thành tự nhiên từ hoàn cảnh lịch sử của một quốc gia vừa thua trận, cần xây dựng lại mọi thứ từ đầu với nguồn lực khan hiếm và không có một mạng lưới an sinh xã hội nào đủ mạnh để đứng độc lập. Các công ty như vậy lấp vào khoảng trống đó và trở thành trung tâm của cuộc sống, vừa về kinh tế vừa về bản sắc. Đến nỗi người Nhật hỏi nhau kaisha wa doko? - bạn làm công ty nào, trước khi hỏi tên họ, vì công ty bạn làm nói lên bạn là ai trong xã hội Nhật Bản rõ hơn bất kỳ mô tả cá nhân nào khác.
Khi bản sắc cá nhân hòa tan hoàn toàn vào bản sắc cơ quan, ranh giới giữa cống hiến và tự hủy hoại trở nên mơ hồ theo cách không ai có thể nhận ra cho đến khi đã quá muộn. Nenkō joretsu, thăng tiến theo thâm niên, có nghĩa là tài năng không thể giúp bạn thăng tiến nhanh hơn. Cách duy nhất để đi lên là ở lại lâu và trung thành tuyệt đối. Trong văn hóa mà sự trung thành được đo bằng số giờ hiện diện ở văn phòng hơn là số lượng công việc thực sự hoàn thành, người ta ở lại công ty sau giờ làm không phải vì còn việc mà vì rời đi sớm là phản bội. Sabisu zangyo, làm thêm giờ không công, trở thành tiêu chuẩn ngầm. Khảo sát thập niên 1980 cho thấy salaryman Nhật Bản làm thêm trung bình từ tám mươi đến một trăm giờ mỗi tháng ngoài giờ hành chính, phần lớn không được tính lương và không ai yêu cầu họ làm vậy vì về bản chất họ không phải cần yêu cầu.
Áp lực đến từ ngang hàng, từ văn hóa xung quanh, từ việc nhìn sang người ngồi cạnh mình vẫn đang gõ phím lúc chín giờ tối và tự hỏi liệu mình có phải là người thiếu cống hiến nếu đứng dậy ngay bây giờ. Người Nhật có một từ cho sự xấu hổ trước tập thể là haji, và haji vận hành hiệu quả hơn bất kỳ hợp đồng lao động nào từng được soạn thảo.
Karoshi xuất hiện lần đầu trong y văn Nhật Bản năm 1978. Bác sĩ Tetsunojo Uehata và các đồng nghiệp bắt đầu ghi nhận một mô hình bất thường: những người đàn ông trung niên khỏe mạnh, không có tiền sử bệnh tim mạch, đột ngột ngã xuống vì đột quỵ hoặc nhồi máu cơ tim ngay tại văn phòng hoặc trên đường về nhà sau ca làm việc kéo dài. Họ không hề uống rượu nhiều, không béo phì, không có các yếu tố nguy cơ thông thường. Điều duy nhất họ có chung là số giờ làm việc. Nhưng karoshi không chỉ là cái chết vì tim mạch. Phần ít được nói đến hơn là karojisatsu, tự tử do kiệt sức vì công việc. Một luật sư trẻ ở Tokyo làm việc một trăm mười lăm giờ một tuần trong những tháng cuối đời. Một nhân viên siêu thị hai mươi tuổi chết sau bảy mươi ngày liên tiếp không có ngày nghỉ. Một kỹ sư phần mềm để lại bức thư tuyệt mệnh, nó viết rằng ông không nhớ mình còn thích gì ngoài công việc, và giờ thì ngay cả công việc cũng không còn ý nghĩa với ông nữa.
Chính phủ Nhật Bản đã công nhận karoshi là nguyên nhân tử vong hợp pháp năm 1987, tức là gia đình nạn nhân có thể nhận bồi thường từ các công ty. Nhưng con số được công nhận chính thức luôn thấp hơn nhiều so với thực tế vì để được công nhận phải chứng minh mối liên hệ trực tiếp giữa giờ làm việc và cái chết, một quá trình pháp lý dài hơi mà nhiều gia đình không có sức để theo đuổi khi họ vừa mất đi trụ cột. Ước tính của các nhà nghiên cứu độc lập cho thấy hàng chục ngàn người chết mỗi năm vì nguyên nhân liên quan đến làm việc quá sức, nhưng con số chính thức chỉ là vài trăm. Phần còn lại nằm trong khoảng mà hệ thống xã hội Nhật ở thời điểm đó không muốn đo đạc.
Bên dưới những cái chết được đếm và không được đếm là một thảm kịch ít kịch tính hơn nhưng lan rộng hơn, đó là sự xói mòn dần dần của một cuộc đời có chiều sâu, có ý nghĩa.
Những đứa trẻ lớn lên trong các gia đình salaryman thập niên 1970 và 1980 chia sẻ một ký ức chung: người cha là nhân vật bí ẩn, về muộn khi họ đã ngủ và đi sớm trước khi họ thức dậy, xuất hiện vào sáng Chủ nhật với khuôn mặt đần ra vì mệt mỏi, ngồi trước tivi mà không thật sự xem gì. Đó không phải người cha vô trách nhiệm theo nghĩa thông thường. Ông đang làm tất cả những gì xã hội bảo ông phải làm để là một người cha tốt, kiếm tiền, ổn định, trung thành với công ty. Chỉ là trong quá trình lớn lên của những đứa trẻ đó, ông đã không có mặt. Người Nhật có một từ cho những người cha này là moretsu shain, nhân viên cuồng nhiệt, và từ đó trong một thời gian dài mang hàm nghĩa ca ngợi hơn là chỉ trích. Người đàn ông cống hiến hết mình cho công ty là một người đàn ông tốt. Người đàn ông về nhà đúng giờ ăn tối với con cái là người đàn ông đáng ngờ về mức độ nghiêm túc trong sự nghiệp. Cái thang đo giá trị đó không phải do một cá nhân hay một tập đoàn tạo ra. Nó đã được xây dựng qua nhiều thập niên bởi toàn bộ hệ thống - văn hóa, giáo dục, truyền thông, kỳ vọng xã hội - đến mức những con người trong cuộc không còn nhìn thấy nó như một lựa chọn nữa mà như một thực tế tự nhiên. Trong khi đàn ông bị vắt kiệt ở công sở, phụ nữ trong hệ thống ấy cũng bị nghiền nát theo một cách triệt để không kém. Văn hóa doanh nghiệp thời bấy giờ mặc định rằng phụ nữ sau khi kết hôn hoặc sinh con phải lập tức từ bỏ sự nghiệp để trở thành sengyo shufu - nội trợ toàn thời gian. Họ bị đẩy vào một cuộc chiến đơn độc: một mình gánh vác toàn bộ việc nuôi dạy con cái, quán xuyến nhà cửa, lo toan học hành, trong khi người chồng trở về nhà chỉ như một cái xác không hồn cần chỗ ngủ. Còn với những người phụ nữ tham vọng muốn bám trụ lại văn phòng? Họ buộc phải lao vào một chiến trường được thiết kế độc tôn cho đàn ông - những kẻ không có gánh nặng gia đình. Làm thêm giờ, tham gia những cuộc nhậu nhẹt thâu đêm mang tên nomikai để duy trì quan hệ, và liên tục bị đặt trước những lựa chọn nghiệt ngã: hoặc sự nghiệp, hoặc hạnh phúc cá nhân.
Không phải ngẫu nhiên mà tỷ lệ sinh của Nhật Bản bắt đầu lao dốc không phanh ngay trong chính kỷ nguyên tăng trưởng thần tốc ấy, rồi vĩnh viễn không bao giờ có thể quay đầu trở lại.
Có một chi tiết nhỏ đáng chú ý, người Nhật phát minh ra khái niệm inemuri, ngủ gật ở nơi công cộng, và biến nó thành điều chấp nhận được về mặt xã hội. Nhân viên ngủ gật trên tàu điện, trong cuộc họp, đôi khi ngay tại bàn làm việc, và không ai phán xét họ, vì ngủ gật được hiểu là bằng chứng của sự cống hiến, bằng chứng rằng người đó đang làm việc nhiều đến mức không đủ giờ để ngủ đúng nơi đúng chỗ. Một xã hội đã đi xa đến mức biến sự thiếu ngủ thành dấu hiệu của đức hạnh là xã hội đã mất đi điểm chuẩn để nhận ra cái gì là bình thường và cái gì là tổn thương.
Triết học Nhật Bản có khái niệm ikigai, lý do để thức dậy mỗi buổi sáng - giao điểm giữa điều bạn yêu thích, điều bạn giỏi, điều thế giới cần và điều người ta trả tiền cho bạn. Trong thập niên 1980, với hầu hết salaryman Nhật Bản, bốn vòng tròn đó thu lại chỉ còn một: điều gì làm người ta trả tiền. Những vòng còn lại - yêu thích, giỏi về mặt cá nhân, ý nghĩa ngoài văn phòng - dần dần teo lại rồi biến mất vì không có thời gian, không có không gian tinh thần để nuôi dưỡng chúng.
Ông Ogasawara về hưu năm năm mươi tám tuổi. Con trai ông lúc đó đã có gia đình riêng ở tỉnh khác. Ông ngồi ở nhà và không biết phải làm gì với thời gian, không có sở thích, không có bạn bè ngoài đồng nghiệp cũ, không có thói quen nào thuần túy là của riêng ông ngoài những thói quen gắn với công việc. Người Nhật gọi hội chứng này là shujin zaitaku sutoresu, hội chứng chồng về hưu ở nhà, và vợ của nhiều ông chồng như vậy phát triển các triệu chứng căng thẳng thực thể vì bỗng nhiên phải chung không gian suốt ngày với một người đàn ông xa lạ về mặt tinh thần mặc dù họ đã sinh sống cùng nhau mấy mươi năm.
Đó là cái giá trả chậm, loại hóa đơn đến tay sau khi bữa tiệc đã tàn.
Kỳ tích kinh tế Nhật Bản không được tạo ra bởi những con người toàn vẹn. Nó được tạo ra bởi những con người đã đồng ý như một thoả thuận, một phần vì áp lực và một phần vì tin tưởng thật sự, rằng việc thu nhỏ bản thân lại để vừa vặn với khuôn khổ của tập đoàn là đóng góp cao quý nhất họ có thể làm. Họ không sai về mặt kết quả vĩ mô. Nhật Bản thật sự đã trở thành cường quốc kinh tế. Những chiếc xe Toyota chạy bon bon trên đường xá Mỹ, những chiếc tivi Sony trong phòng khách ở tận châu Âu, những con chip Toshiba trong máy tính khắp thế giới là bằng chứng thật của sự cống hiến đó. Nhưng thứ không xuất hiện trong bất kỳ bảng thống kê xuất khẩu nào là những buổi tối mà những ông bố không có mặt ở bàn ăn, những sở thích cá nhân bị chôn vùi từ năm hai mươi lăm tuổi không bao giờ được đào lên lại, những cuộc hôn nhân tồn tại về mặt hành chính mà rỗng tuếch về mặt con người, những người đàn ông chết trên đường về nhà mà trong túi vẫn còn tờ memo chưa gửi cho sếp.
Khi một xã hội đo giá trị con người chủ yếu bằng năng suất họ tạo ra cho tập thể, và khi cái tập thể đó không đặt câu hỏi ngược lại về giá trị con người trong đó, thì guồng máy sẽ tiếp tục quay cho đến khi những bánh răng nhỏ nhất bắt đầu vỡ. Và những bánh răng nhỏ nhất luôn là con người.
Sự đứt gãy của sợi dây liên kết
Năm 2009, NHK phát đi một bộ phim tài liệu mang tên Muen Shakai, xã hội không mối liên kết, và những người dân Nhật xem nó trong im lặng nặng nề theo cách mà người ta im lặng khi nhìn thấy thứ mình đã biết từ lâu nhưng chưa bao giờ dám gọi thành tên. Bộ phim kể về những người chết một mình trong căn hộ Tokyo mà hàng xóm không hay không biết cho đến khi mùi hôi bắt đầu thoát ra qua khe cửa. Về những đám tang không có người đến viếng, tro cốt được nhà nước lưu giữ vì không tìm được thân nhân. Về những người già sống trong các chung cư cao tầng giữa lòng thành phố hàng chục triệu dân mà nhiều tuần liền không có lấy một cuộc trò chuyện với con người thật.
NHK sau đó tiến hành khảo sát và công bố một con số mà nhiều người không muốn tin vào: mỗi năm có khoảng ba mươi hai nghìn người chết một mình ở Nhật Bản, thi thể họ không được phát hiện trong ít nhất vài ngày, đôi khi vài tuần, đôi khi lâu hơn. Họ gọi hiện tượng đó là kodokushi, cái chết cô độc, và từ đó chứa đựng một điều kỳ lạ mà không có xã hội nào giàu có như Nhật Bản lẽ ra phải đối mặt: người ta chết một mình giữa những thành phố đông người nhất thế giới, và không ai biết cho đến khi đã quá muộn để còn làm được gì.
Người dân Nhật truyền thống sống trong ba vòng tròn liên kết đan xen nhau. Ketsuen, huyết duyên, là sợi dây gia đình, dòng họ, nghĩa vụ với cha mẹ và trách nhiệm với con cái. Chien, địa duyên, là mối gắn bó với làng quê, với cộng đồng nơi sinh ra và lớn lên, với những người hàng xóm mà ông bà đã quen biết từ trước khi cha mẹ chào đời. Shaen, xã duyên, là liên kết nghề nghiệp và tập thể, cái cảm giác thuộc về một nhóm người cùng làm việc cùng mục tiêu. Ba vòng tròn đó chồng lên nhau và tạo ra một cái lưới xã hội đủ dày để nâng đỡ con người ta khi ngã.
Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa từ thời Minh Trị đến đỉnh điểm tăng trưởng thời hậu chiến đã tháo dỡ từng vòng tròn một, lần lượt và kiên nhẫn, cứ như không ai có kế hoạch nhưng kết quả lại nhất quán đến mức đáng sợ.
Ketsuen vỡ trước. Hàng triệu thanh niên rời làng quê lên Tokyo, Osaka, Nagoya trong làn sóng di cư đô thị thập niên 1950 và 1960. Họ đến với một vali quần áo và một địa chỉ ký túc xá công ty, cắt đứt khỏi gia đình theo nghĩa vật lý và dần theo nghĩa tinh thần. Những người ở lại làng già rồi mất đi mà con cái họ không về kịp. Những người lên thành phố lập gia đình mới trong các căn hộ chật hẹp, sinh con và nuôi con trong một môi trường mà cả hai vợ chồng đều không có họ hàng gần bên cạnh để nhờ cậy. Mô hình gia đình mở rộng nhiều thế hệ cùng chung mái nhà, kiểu mô hình mà trong đó đứa trẻ lớn lên biết mặt ông bà, cô dì chú bác, và người già không bao giờ thật sự cô đơn, tan dần thành những đơn vị hạt nhân biệt lập.
Văn hóa chonai-kai, hội đồng khu dân cư nơi hàng xóm biết tên nhau và cùng tổ chức lễ hội làng, cùng trông nom người già và trẻ nhỏ, vẫn còn tồn tại trên giấy tờ nhưng mất dần chức năng thực tế trong các khu chung cư đô thị. Người ta chuyển vào một tòa nhà, sống năm bảy năm, rồi chuyển đi nơi khác theo yêu cầu điều chuyển từ công ty, rồi lại chuyển đi nơi khác nữa. Không ai ở một chỗ đủ lâu để biết tên người hàng xóm, chứ chưa nói đến xây dựng với họ thứ gì đó có thể gọi là cộng đồng. Những khu phố cũ ở Tokyo nơi người ta sống từ đời này sang đời khác, mọi người biết tất cả mọi người, dần bị thay thế bởi những tòa nhà mới nơi ba mươi tầng chứa ba trăm gia đình không hề biết gì về nhau ngoài tiếng ồn qua những tường.
Shaen, vòng liên kết cuối cùng, tưởng như bền vững nhất vì văn hóa công ty Nhật Bản đầu tư rất nhiều vào nó. Nhưng khi bong bóng kinh tế vỡ năm 1991 và các tập đoàn lớn bắt đầu sa thải nhân viên, cắt bỏ hệ thống tuyển dụng trọn đời, chuyển sang hợp đồng tạm thời, thì những người salaryman mất việc chợt nhận ra rằng cái lưới họ tưởng là của mình thật ra chỉ được vay mượn từ công ty. Khi công ty đang làm không còn cần họ nữa, tấm lưới đó cũng thu lại và biến mất. Đồng nghiệp cũ không gọi điện hẹn hò. Cấp trên cũ không nhớ mặt. Và họ, những người đã đặt toàn bộ bản thân vào bản sắc công ty suốt ba mươi năm, đột ngột nhận ra mình không còn biết mình là ai khi tách rời khỏi cái danh thiếp ghi tên chính cái công ty đã từng nuôi sống và cũng vừa bức tử chính cuộc đời họ.
Kodokushi không phải hiện tượng mới của thế kỷ hai mươi mốt. Nó bắt đầu tích lũy từ nhiều thập niên trước, chỉ là trong thời tăng trưởng người ta quá bận rộn để ngẫm nghĩ và nhìn thấy. Những người chết một mình trong căn hộ Nhật Bản không phải tất cả đều là người già. Họ là những người đàn ông trung niên mất việc sau khi bong bóng vỡ, không còn lý do để ra khỏi nhà và không có ai đủ gần gũi để nhận ra sự vắng mặt của họ. Những người phụ nữ ly hôn về già không có con cái bên cạnh vì con cái đã rời đi theo guồng máy kinh tế. Những người đàn ông về hưu mà vợ mất trước, bạn bè đã lần lượt ra đi, và thành phố xung quanh họ chứa đầy người hoàn toàn xa lạ.
Ngành công nghiệp dọn dẹp hiện trường kodokushi ra đời ở Nhật Bản vào những năm 2000 như một hệ quả tất yếu. Những công ty chuyên xử lý các căn hộ sau khi thi thể được đưa đi, làm sạch thảm, sơn lại tường, khử mùi, thu gom đồ đạc của những người không còn thân nhân để nhận lại. Ông Yoshida Taichi, người sáng lập một trong những công ty đầu tiên trong ngành này, kể lại rằng thứ ám ảnh ông không phải là công việc dọn dẹp mà là đồ đạc trong những căn phòng đó: những bữa ăn còn dang dở trên bàn, những quyển lịch ghi kế hoạch cho những ngày sau khi người chủ đã không còn nữa, những tấm ảnh gia đình trên kệ mà khung ảnh đã phủ bụi dày vì lâu không ai lau dọn.
Xã hội Nhật Bản đã xây dựng một hệ thống đăng ký hộ tịch cực kỳ chi tiết, theo dõi từng công dân từ lúc sinh đến lúc chết. Nhưng hệ thống đó chỉ ghi nhận sự tồn tại trên giấy tờ, không ghi nhận sự cô đơn của từng cá thể. Một người có thể được đăng ký đầy đủ ở một địa chỉ hợp lệ, đóng thuế đúng hạn, và chết trong căn hộ đó suốt nhiều tuần mà không một cơ quan nhà nước nào biết cho đến khi hàng xóm gọi vì mùi hôi bốc lên. Trong khi thế hệ già chết trong im lặng, thế hệ trẻ hơn đang phát triển một phản ứng khác với cùng một vấn đề cốt lõi - hướng vào bên trong thay vì đợi thế giới bên ngoài đến. Hikikomori là từ mà nhà tâm lý học Tamaki Saito đặt tên năm 1998 cho hiện tượng ông quan sát trong nhiều năm làm việc với thanh thiếu niên Nhật Bản: những người trẻ tuổi, phần lớn là nam giới, tự nhốt mình trong phòng ngủ từ vài tháng đến vài chục năm, không đi học, không đi làm, không ra ngoài, giảm thiểu tiếp xúc với thế giới bên ngoài xuống mức gần như bằng không. Ước tính của chính phủ Nhật năm 2019 cho thấy có khoảng một triệu hikikomori đang sống như vậy ở Nhật Bản - con số thật sự có thể cao hơn nhiều bởi vì nhiều gia đình chọn giấu nhẹm đi không báo cáo vì xấu hổ.

Bên ngoài cánh cửa đó là cha mẹ già đi từng năm, không biết bắt đầu câu chuyện từ đâu với đứa con họ đã mất liên lạc từ năm nó mười tám tuổi. Họ để phần ăn trước cửa phòng mỗi sáng, và cái khay thức ăn được nhấc vào rồi trả ra là dấu hiệu duy nhất còn lại giữa hai người từng là một gia đình. Có những người mẹ làm việc đó suốt mười lăm năm mà không một lần nghe tiếng con cái họ trả lời, không biết con đang nghĩ gì, không biết con cái họ có còn ổn không, chỉ biết rằng sáng nay khay thức ăn đã được nhấc vào tức là nó vẫn còn ở đó. Chính phủ Nhật Bản đặt tên cho tình trạng này là 8050 mondai, vấn đề tám mươi năm mươi - cha mẹ tám mươi tuổi nuôi con hikikomori năm mươi tuổi. Thế hệ cô đơn này phải nuôi một thế hệ cô đơn khác, cánh cửa vẫn đóng, và không ai trong số họ còn đủ sức để đặt câu hỏi tại sao.
Tokyo có ba mươi bảy triệu người trong vùng đô thị. Những chuyến tàu điện ngầm đông đến mức phải có nhân viên chuyên nghiệp đứng ở cửa tàu để đẩy, nhét hành khách vào cho vừa để đóng cửa. Không có giờ nào trong ngày mà đường phố thật sự vắng. Về mặt vật lý, đây phải là một trong những nơi khó cô đơn nhất trên mặt đất.
Nhưng khoảng cách giữa hai người đứng sát nhau trên tàu Yamanote Line có thể vô tận.
Người Nhật xây dựng một hệ thống nghi lễ xã hội tinh tế đến mức gần như nghệ thuật để điều phối sự tồn tại chung trong không gian chật hẹp: cúi chào ở góc độ chính xác theo cấp bậc, trao danh thiếp bằng hai tay và nhìn vào mắt nhau đúng một giây, những câu xã giao được công thức hóa đến mức truyền tải gần như không có thông tin cá nhân nào nhưng vẫn giữ cho mọi thứ vận hành trơn tru. Hệ thống đó xuất sắc theo đúng nghĩa đen của từ này. Nó cho phép ba mươi bảy triệu người cùng tồn tại mà không va chạm, không xúc phạm, không xâm phạm không gian của nhau dù chen chúc trong những không gian mà đặt vào bất kỳ xã hội nào khác cũng đã nổ tung từ lâu.
Điểm mù của nó nằm ở chỗ: không có chỗ trong hệ thống đó cho sự thật thô ráp. Không có nghi lễ nào cho việc nói thẳng rằng bản thân mình đang không ổn. Không có kịch bản xã hội nào cho việc nhờ giúp đỡ mà không cảm thấy mình đang đặt gánh nặng lên vai người khác. Người Nhật gọi cái gánh nặng đó là meiwaku, sự phiền nhiễu, và nỗi sợ tạo ra meiwaku cho người xung quanh ăn sâu vào từng tương tác đến mức trở thành phản xạ. Người già sống một mình không dám gọi điện cho con cái vì sợ chúng nó đang bận. Người trẻ hikikomori không mở cửa phòng vì sợ cha mẹ lo lắng thêm về những thứ cha mẹ mình đã lo quá nhiều rồi. Người đàn ông mất việc không nói với vợ vì sợ vợ thấy mình thất bại. Tất cả im lặng với nhau, không phải vì không quan tâm nhau, mà vì quan tâm theo cái cách mà xã hội này đã dạy họ, và cái cách đó có hình dạng của sự im lặng. Im lặng kéo dài đủ lâu thì trở thành bức tường. Và tường đủ dày thì người ta quên mất rằng trước kia nó cũng từng có cảnh cửa chờ được mở.
Mùa hè 2 năm trước, 2021, trong giai đoạn đại dịch COVID, chính phủ Nhật Bản bổ nhiệm một bộ trưởng phụ trách sự cô đơn, kodoku taisaku tantō daijin. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử một quốc gia có bộ trưởng cho vấn đề đó, và phần lớn thế giới đọc tin này với sự ngạc nhiên pha lẫn một chút hoài nghi về tính thực tế của nó. Người dân Nhật đọc bản tin đó và nhiều người chỉ thấy rằng phải đến mức độ nào thì một quốc gia mới cần đến điều đó. Câu trả lời là: phải đến mức những siêu đô thị giàu có nhất thế giới trở thành nơi con người ta chết một mình ên mà không ai hay ai biết trong nhiều tuần lễ, những đứa trẻ tự nhốt mình khỏi xã hội trong mười năm hay thậm chí hai mươi năm, và người ta cần một vị trí trong nội các để nhắc nhở xã hội rằng con người vẫn cần nhau theo những cách mà chỉ số GDP không đo được và tăng trưởng kinh tế không tự động tạo ra.
Họ đã xây dựng những thành phố lớn hơn bất kỳ thứ gì trong lịch sử nhân loại. Họ làm cho những thành phố đó hoạt động trơn tru với độ chính xác của đồng hồ Thụy Sĩ. Tàu điện ngầm Tokyo chạy đúng giờ đến mức trễ hai phút là lý do để nhân viên xin lỗi hành khách trên loa phóng thanh. Nhưng ở phía trong những tòa nhà dọc theo những tuyến đường tàu chính xác đến từng phút đó, người ta đang học cách sống mà không cần nhau, và cái môn học đó - sau mấy thập niên công nghiệp hóa lẫn văn hóa đè nén cảm xúc và di cư đứt đoạn khỏi nguồn cội - đã thành thục đến mức trở thành bản năng thứ hai. Không ai dạy họ cô đơn. Hệ thống xã hội chỉ không dạy họ cách không cô đơn, và sự vắng mặt đó đủ để làm mọi thứ còn lại xảy ra mất kiểm soát.
Lạc lối trên đỉnh cao - Khi một nền kinh tế vĩ đại không biết đi về đâu
Tháng 12 năm 1989, chỉ số Nikkei chạm đỉnh 38.957 điểm. Báo chí Tokyo chạy những dòng tít lớn về việc Nhật Bản sắp mua cả thế giới. Các tập đoàn Nhật đang thâu tóm bất động sản Manhattan, Hollywood, sân golf California. Một mảnh đất nhỏ trong khuôn viên Hoàng cung Tokyo, theo tính toán của thời điểm đó, có giá trị tương đương toàn bộ bang California. Người Nhật đứng ở nơi mà một trăm năm trước, khi bốn chiếc tàu đen của Perry tiến vào vịnh Edo, chưa ai dám tin rằng có ngày họ có thể leo tới.
Rồi năm mới đến. Bong bóng bắt đầu xì hơi từ từ, rồi đổ vỡ toàn diện. Nikkei mất hơn một nửa giá trị trong vòng hai năm. Giá bất động sản sụp đổ. Các ngân hàng ôm đống nợ xấu không giải quyết được trong nhiều thập niên. Tốc độ tăng trưởng từ hai con số hào phóng co lại gần bằng không, rồi thỉnh thoảng âm, rồi lại gần bằng không - một trạng thái kỳ lạ mà kinh tế học gọi là đình lạm (hay còn gọi là hay lạm phát đình đốn - Stagflation) và người Nhật gọi một cách mệt mỏi là ushinawareta jūnen, thập kỷ mất mát, rồi khi một thập kỷ không đủ, họ thêm vào một thập kỷ nữa, rồi nữa, cho đến khi người ta không còn chắc phải dùng số ít hay số nhiều cho từ thập kỷ nữa.
Nhưng sự sụp đổ kinh tế, dù tàn khốc, không phải phần đau đớn nhất của những gì xảy ra sau năm 1991. Phần đau nhất là cảm giác hoang mang hiện sinh của một xã hội vừa đạt được mục tiêu lớn nhất của mình và nhận ra sự thật rằng một khi đã đạt được rồi thì sao nữa. Suốt một trăm năm kể từ Minh Trị, người Nhật có một ngọn hải đăng rõ ràng để nhắm vào. Đầu tiên là datsu-A nyū-Ō, thoát khỏi châu Á, gia nhập phương Tây, chứng minh rằng một dân tộc da vàng có thể hiện đại hóa theo tiêu chuẩn của người châu Âu. Khi điều đó thành công nhưng lại dẫn đến thảm họa quân sự năm 1945, ngọn hải đăng mới xuất hiện: tái thiết từ tro tàn, đuổi kịp Mỹ về kinh tế, rửa nhục bằng GDP thay vì súng đạn. Cả hai mục tiêu đó đều cụ thể, đo lường được, và đủ lớn để biện minh cho những hy sinh tập thể khổng lồ. Đến thập niên 1980, cả hai mục tiêu đó đã hoàn thành theo mọi chỉ số thông thường. Nhật Bản không chỉ đuổi kịp phương Tây mà còn đang đe dọa sẽ vượt qua họ. Người Mỹ đọc sách Japan as Number One của Ezra Vogel xuất bản năm 1979 với nỗi lo thật sự rằng mô hình Nhật Bản đang chứng minh tính ưu việt so với chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ. Rồi bong bóng vỡ, ngọn hải đăng vụt tắt, và cỗ máy khổng lồ đang được vận hành bởi một trăm năm ý chí tập thể đột ngột không còn biết mình đang chạy về phía nào.
Trống rỗng sau chiến thắng là một loại khủng hoảng mà triết học có tên gọi nhưng kinh tế học không có phương trình. Viktor Frankl, người sống sót qua trại tập trung Đức Quốc xã và viết Man's Search for Meaning, gọi nó là existential vacuum, khoảng chân không hiện sinh: trạng thái mà con người không còn biết mình đang sống vì điều gì. Ông quan sát nó ở những cá nhân, những con người thật. Và Nhật Bản sau năm 1991 là phiên bản quốc gia của hiện tượng đó.
Dân số Nhật Bản đạt đỉnh năm 2008 ở mức 128 triệu người và từ đó đi xuống không dừng. Tỷ lệ sinh hiện tại ở mức 1,2 con trên một phụ nữ, thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng duy trì dân số 2,1, và không có dấu hiệu hồi phục. Mỗi năm Nhật Bản mất đi khoảng 500.000 đến 600.000 người xét về hiệu số sinh tử. Đến năm 2050, theo dự báo của chính phủ, dân số sẽ giảm xuống dưới 100 triệu, với hơn bốn mươi phần trăm trong số đó là người già trên sáu mươi lăm tuổi.
Những con số đó không phải tai nạn đột ngột. Chúng là kết quả tích lũy của những gì đã được kể từ đầu bài: những người phụ nữ qua nhiều thập niên nhận ra rằng kết hôn và sinh con trong xã hội Nhật Bản có nghĩa là gánh nặng gấp đôi mà không có phần thưởng tương xứng; những người đàn ông trẻ tuổi thuộc thế hệ sōshoku-kei, thế hệ ăn cỏ, từ bỏ tham vọng, từ bỏ hẹn hò, từ bỏ việc tạo lập gia đình vì nhìn vào tấm gương cha mình đã sống như thế nào và quyết định không muốn lặp lại; những đôi vợ chồng dừng lại ở một hoặc không có con vì chi phí giáo dục trong một xã hội cạnh tranh cực độ biến mỗi đứa trẻ thành một dự án tài chính dài hạn mà ngay cả tầng lớp những người trung lưu ngày càng khó kham nổi.
Nghịch lý của phép màu kinh tế Nhật Bản là nó đã tạo ra những điều kiện làm cho con người ta không muốn sinh ra những đứa trẻ sẽ thừa hưởng nó.
Năm 2019, chính phủ Nhật Bản phát hiện ra rằng có khoảng 612.000 ngôi nhà bỏ hoang trên toàn quốc, được gọi là akiya, nhà ma. Con số thật sự có thể gần gấp đôi vì nhiều ngôi nhà không được đăng ký chính thức. Ở những vùng nông thôn tỉnh lẻ, tỷ lệ nhà bỏ hoang lên đến hai mươi, ba mươi phần trăm tổng số nhà cửa. Những ngôi làng nơi cha ông của những salaryman Tokyo từng sống, nơi mà ketsuen và chien từng là nền tảng của mọi ngóc ngách đời sống, giờ trở thành những bức tranh về sự vắng lặng: mái ngói rêu phong, cỏ mọc qua sàn gỗ mục, đền thờ không người bảo trì, trường tiểu học đóng cửa vì không còn đủ trẻ em để mở.
Nhật Bản đang co rút về phía trung tâm như một ngôi sao sụp đổ về phía chính nó. Dân số tập trung vào Tokyo và vài thành phố lớn trong khi vùng ngoại vi dần trở nên trống rỗng. Cái đất nước vốn san núi và lấp biển để xây nhà máy, vốn đốt than và đổ thủy ngân để đổi lấy tăng trưởng, vốn vắt kiệt sức người trong ba thế hệ để trở thành cường quốc thứ hai thế giới, giờ đang nhìn những ngôi nhà của chính dân tộc mình trở về với cỏ dại và im lặng.
Ở Việt Nam, cuộc trò chuyện về Nhật Bản thường diễn ra theo một khuôn mẫu quen thuộc. Người ta dẫn chứng tàu điện ngầm đúng giờ, người nhặt rác trong World Cup, toilet thông minh và dịch vụ hoàn hảo như bằng chứng của một nền văn minh ưu việt mà chúng ta cần học hỏi và noi gương. Nhật Bản trong trí tưởng tượng đó sạch sẽ, kỷ luật, hiệu quả, khiêm tốn và tử tế - một xã hội lý tưởng mà người Việt nhìn vào với ánh mắt ngưỡng mộ pha nhiều tự ti. Sự ngưỡng mộ đó không hoàn toàn sai, nhưng nó chọn lọc theo cách rất có lợi cho người ngưỡng mộ. Những người hời hợt thường chọn nhìn kết quả mà không thấy quá trình. Thấy cái toilet thông minh mà không thấy được người công nhân nhà máy Minamata mất kiểm soát thần kinh vì thủy ngân. Thấy tàu điện đúng giờ mà không thấy người đàn ông ngủ gật trên đó sau mười bốn tiếng làm việc không lương thêm giờ. Thấy người Nhật cúi đầu lịch sự mà không thấy phía sau cái cúi đầu đó là cả một văn hóa kìm nén cảm xúc đã sản sinh ra một triệu người hikikomori và ba mươi hai nghìn cái chết cô độc mỗi năm.
Và có một câu hỏi hay ho hơn mà cuộc trò chuyện ngưỡng mộ đó thường né tránh: rằng người Việt Nam chúng ta, hay bản thân bạn có sẵn sàng trả cái giá đó không - và trả theo nghĩa cá nhân, không phải theo nghĩa trừu tượng quốc gia?
Sẵn sàng để đứa con gái của mình đang mười lăm tuổi vào nhà máy làm mười hai tiếng và nhúng tay vào nước sôi ươm tơ? Sẵn sàng không nhìn mặt những đứa con lớn lên vì về nhà lúc nửa đêm sáu ngày một tuần trong mười năm? Sẵn sàng sống trong một căn hộ hai mươi mét vuông ở đô thị suốt đời vì công ty điều động và bản thân không có quyền từ chối? Sẵn sàng chết một mình trong căn phòng khóa kín ba tuần trước khi hàng xóm phát hiện vì cả tòa nhà không ai biết tên nhau?
Câu trả lời, nếu thành thật, hầu như chắc chắn là không. Người Việt, với tất cả những điểm yếu hay bị tự chỉ trích, vẫn giữ được những thứ mà người Nhật đã phải trả rất đắt để mất đi và bây giờ đang vật lộn tìm lại cũng chưa chắc có được. Những gia đình đa thế hệ cùng sống dưới một mái nhà, dù ồn ào và đôi khi ngột ngạt, vẫn là lưới đỡ thật sự khi người ta ngã xuống. Hàng xóm biết tên nhau, đôi khi biết quá nhiều chuyện của nhau, nhưng cái biết đó là sợi dây mà khi ai đó cần, người ta có thể nắm lấy và kéo lại. Thói quen tụ tập, ăn uống, ngồi vỉa hè nói chuyện vô thưởng vô phạt - tất cả những thứ mà người Việt hay tự xem là kém phát triển so với sự nghiêm túc Nhật Bản - thực ra là những hình thức cộng đồng tự nhiên mà Nhật Bản đã mất đi và bây giờ cần đến bộ trưởng phụ trách sự cô đơn để tìm cách khôi phục.
Sự ngưỡng mộ thiếu phê phán không chỉ là hiểu lầm về xã hội Nhật Bản. Nó còn là sự hiểu lầm về chính mình - khi người ta không nhận ra giá trị của những thứ mình đang có vì quá bận khi nhìn sang phía bên kia, chỉ nhìn thấy sự vĩ đại mà quên mất những câu hỏi về nguồn gốc của những thứ đó, chúng được đánh đổi bằng thứ gì.
Lịch sử Nhật Bản trong một trăm năm qua là câu chuyện về một dân tộc đặt câu hỏi đất nước này phải trở thành gì và trả lời với toàn bộ sức lực của mình, không chừa lại gì, không hỏi lại liệu câu trả lời đó có đúng hay không, không dừng lại đủ lâu để hỏi những câu hỏi khó khăn hơn: trở thành thứ đó rồi thì sao, và những người sống trong đó liệu họ có hạnh phúc không.
Samurai mất đi thanh kiếm để Nhật Bản có súng. Thiếu nữ mười lăm tuổi mất đôi tay để Nhật Bản có ngoại tệ mua tàu chiến. Ngư dân Minamata mất hệ thần kinh để Nhật Bản có nhà máy hóa chất. Salaryman mất gia đình để Nhật Bản có GDP. Người già mất cộng đồng để Nhật Bản có siêu đô thị. Và cuối cùng khi Nhật Bản đứng trên đỉnh, nhìn xuống và nhìn lại những ngôi làng trống, những căn hộ akiya trả về cho cỏ dại, những căn phòng khóa kín từ bên trong, những tờ giấy báo tử ghi nguyên nhân là tim ngừng đập nhưng thật ra là do làm việc đến chết, những hũ tro cốt không ai nhận ở nhà tang lễ thành phố.
Sự vĩ đại của Nhật Bản là thật. Không ai có thể nhìn vào một trăm năm lịch sử đó và phủ nhận quy mô của những gì họ đã từng làm. Từ một quốc gia phong kiến bên bờ vực thuộc địa hóa đến nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong vòng chưa đầy một thế kỷ - đó là thành tựu không có tiền lệ trong lịch sử hiện đại.
Nhưng thành tựu và hạnh phúc là hai thứ khác nhau hoàn toàn, và cái sai lầm mà Nhật Bản đã mắc phải - cái sai lầm mà nhiều xã hội đang trên đường phát triển đang chuẩn bị lặp lại - là tin rằng thứ này tự động dẫn đến thứ kia. Rằng nếu GDP đủ lớn, nếu xe hơi đủ nhiều, nếu nhà máy đủ hiện đại, thì người dân cũng sẽ tự nhiên hạnh phúc. Rằng những thứ nhỏ bé và giản dị - buổi tối ăn cơm cùng con cái, tiếng gọi tên nhau qua hàng rào, cái biết rằng nếu mình bệnh sẽ có người đến thăm - có thể được bù đắp về sau khi đã đủ giàu.
Nhưng đáng tiếc không có bất cứ thứ gì có thể bù đắp về sau. Những đứa trẻ lớn lên không có cha ở nhà không bao giờ lấy lại được tuổi thơ đó. Những người già chết khô một mình không bao giờ có lại những năm cuối đời khác đi. Những cô gái mất đôi tay vì ươm tơ năm mười lăm tuổi không bao giờ có lại được đôi bàn tay đó. Thời gian không chạy ngược, cũng như entropy chỉ có thể tăng và những thứ bị hy sinh trong quá trình xây dựng cỗ máy không chờ đợi đến khi cỗ máy nó xong xuôi rồi mới hỏng hóc.
Khi đứng trên đỉnh cao và nhìn xuống, người Nhật nhìn thấy những gì họ đã xây dựng nên. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, họ còn thấy cái bóng của những thứ họ đã đem đi để xây nó - những bóng hình không có trong bất kỳ bức ảnh kỷ niệm nào về phép màu kinh tế, nhưng hiện diện trong từng vết nứt của xã hội họ đang sống hôm nay. Và đó là điều mà bất kỳ xã hội nào đang đứng trước lựa chọn giữa vĩ đại và con người, giữa cỗ máy và con người vận hành nó, cũng cần tự hỏi - không phải câu hỏi đất nước này sẽ trở thành gì, mà câu hỏi khó hơn, lặng lẽ hơn, quan trọng hơn: những người sống trong đó liệu có còn nhận ra nhau không.
