Tháng Tư năm 2025, một showroom BYD ở Thâm Quyến treo bảng giảm giá mẫu Seagull thêm 3.000 nhân dân tệ – khoảng 380 đô la Mỹ. Đó là lần cắt giá thứ tư trong vòng mười tám tháng. Một mẫu xe điện cỡ nhỏ giờ rẻ hơn cả một chiếc xe máy tay ga ở Sài Gòn nếu tính theo tỉ giá. Người mua hí hửng. Cổ phiếu BYD vẫn xanh. Nhưng ở một văn phòng tại Bắc Kinh, các quan chức Quốc Vụ Viện thì đang vò đầu, bởi vì trong toàn bộ ngành xe điện có 129 thương hiệu, chỉ ba hãng có lãi.
Ba. Trên một trăm hai mươi chín.
Đó là gương mặt mới nhất của một căn bệnh đã có tên gọi: 内卷 – nèijuǎn – nội cuộn. Một từ mà người Trung Quốc dùng để diễn tả cái cảm giác lạ lùng của thời đại họ: cả xã hội chạy hùng hục, làm việc nhiều hơn, học nhiều hơn, sản xuất nhiều hơn, và cuối cùng không ai khấm khá lên cả. Vòng xoáy ấy đang định hình lại không chỉ kinh tế Trung Quốc, mà cả cách thế giới nhìn vào nền kinh tế lớn thứ hai hành tinh.
Từ cánh đồng lúa Java đến hội trường Đảng
Câu chuyện “nội cuộn” không bắt đầu ở Trung Quốc. Nó bắt đầu ở Indonesia vào năm 1963, trong một cuốn sách mỏng của một nhà nhân học người Mỹ tên Clifford Geertz. Cuốn sách có cái tựa đề khô khan mà chả ai muốn đụng tới – Agricultural Involution: The Processes of Ecological Change in Indonesia – và đáng lẽ ra nó phải nằm yên trên kệ thư viện đại học kinh tế của bất kỳ quốc gia nào.
Geertz quan sát đảo Java thời thuộc địa. Người Hà Lan đặt thuế. Dân số tăng. Đất không nở thêm. Người Java làm gì? Họ không di cư. Họ không cách mạng kỹ thuật. Họ làm điều khả dĩ duy nhất: nhồi thêm lao động vào mỗi mét vuông ruộng lúa. Mỗi gốc lúa được chăm chút hơn. Mỗi vụ được làm tỉ mỉ hơn. Năng suất trên một héc-ta tăng. Năng suất trên một người thì gần như đứng yên. Geertz gọi đó là “involution”, sự cuộn vào trong. Khác với “evolution”, sự nở ra ngoài. Đó là cốt lõi. Evolution là khi xã hội tiến hóa, mở ra hình thái mới. Involution là khi xã hội không tiến lên được mà cũng không sụp xuống được, nó chỉ tinh vi hóa cái cũ đến mức kiệt sức. Mỗi cá nhân nỗ lực nhiều hơn, nhưng tổng giá trị tạo ra cho cả cộng đồng thì không nhúc nhích.
Khoảng năm 2018, mấy sinh viên Đại học Thanh Hoa bắt đầu dùng từ này một cách mỉa mai. Có một tấm ảnh nổi tiếng trên Weibo: một anh sinh viên vừa đạp xe đạp vừa gõ laptop trên ghi đông để kịp deadline. Người ta gọi anh là “卷王” – quán quân của sự cuộn. Từ đó nèijuǎn lan ra. Đầu tiên trong các campus, rồi trong văn phòng công nghệ Bắc Kinh, rồi trong các phòng hội nghị Quốc Vụ Viện. Đến cuối 2024, chính Tập Cận Bình bắt đầu dùng từ này trong các bài phát biểu.
Khi Tổng Bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc mượn lại tiếng lóng của sinh viên, có nghĩa là chúng ta nên biết là chuyện đã lớn lắm rồi.
Cỗ máy sản xuất quá tải của một lục địa
Để hiểu rõ nội cuộn của Trung Quốc, phải hiểu trước cái khuôn mà nền kinh tế ấy được đúc ra. Suốt bốn thập kỷ kể từ Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc theo đuổi một mô hình mà các nhà kinh tế gọi là investment-led growth – tăng trưởng do đầu tư dẫn dắt. Nhà nước, ngân hàng quốc doanh, chính quyền địa phương, tất cả cùng bơm vốn vào nhà máy, cầu đường, bất động sản, sau này là pin lithium, xe điện, tấm pin mặt trời. Cách làm này tạo ra phép màu. GDP nhảy vọt. Trung Quốc cũng đã trở thành công xưởng lớn nhất của cả thế giới. Nhưng cái giá của nó nằm ở một con số dễ bị bỏ qua: tiêu dùng hộ gia đình chỉ chiếm khoảng 39% GDP. Trong khi ở các nước OECD, con số đó trung bình 54%. Ở Mỹ là gần 68%. Tức là người dân Trung Quốc, dù làm ra một nền kinh tế khổng lồ, lại không được tiêu thụ phần lớn những gì họ tạo ra. Phần đó chảy vào đầu tư, vào hạ tầng, vào dây chuyền, chứ không vào ví của họ. Mô hình ấy có một logic riêng, nén tiêu dùng nội địa xuống có nghĩa là dồn nguồn lực cho sản xuất. Dồn nguồn lực cho sản xuất nghĩa là làm ra nhiều hàng hơn nhu cầu trong nước. Hàng dư thì xuất khẩu. Thế giới hấp thụ phần thừa đó suốt hai mươi năm, cho đến khi không thể nữa.
Hãy nhìn ngành năng lượng mặt trời. Trung Quốc hiện cung cấp 95% nguồn polysilicon của thế giới, nguyên liệu cơ bản để làm pin mặt trời. Năm 2025, công suất danh nghĩa toàn cầu vọt lên khoảng 3,5 triệu tấn, trong khi cầu hiệu dụng chỉ ở mức 1,5–2,4 triệu tấn. Tỷ lệ sử dụng công suất rơi xuống dưới 40% vào giữa năm 2025. Các nhà máy buộc phải bán panel dưới giá biến đổi, tức là bán mỗi tấm pin càng nhiều thì lỗ càng nặng. Đó không còn là kinh doanh nữa. Đó là một cuộc thi xem ai chịu lỗ giỏi hơn.
JinkoSolar, một trong tứ đại gia mặt trời Trung Quốc, báo cáo doanh thu năm 2025 sụt giảm 29% xuống còn 65,5 tỷ nhân dân tệ. Biên lợi gộp tụt từ trên 15% xuống còn 2,2%. Lỗ ròng 4,45 tỷ NDT. LONGi, đối thủ trực tiếp của JinkoSolar, báo lỗ 2,56 tỷ NDT chỉ trong nửa đầu năm, với biên gộp lần đầu trong lịch sử công ty rơi xuống vùng âm 0,82%. Tức là bán panel còn không đủ trả tiền nguyên liệu.
Câu chuyện xe điện cũng vậy. Sau hơn một thập kỷ trợ cấp khổng lồ, ước tính 230 tỷ đô từ ngân sách nhà nước, Trung Quốc tạo ra 500 thương hiệu xe điện ở đỉnh điểm năm 2022. Đến 2025, chỉ còn 129 hãng. Các nhà phân tích dự đoán đến cuối thập niên, chỉ chừng một tá thương hiệu sẽ còn sống mà thôi. BYD, gã khổng lồ bán 4,3 triệu xe một năm, đã cắt giá trung bình 32% trong vòng hai năm. Mức chiết khấu của toàn ngành đạt kỷ lục 16,8% vào tháng Tư 2025. Tỷ lệ sử dụng công suất trung bình ngành ô tô Trung Quốc chỉ 49,5%, tức là một nửa số nhà máy chỉ chạy không tải hoặc đắp chiếu.
Đây không phải cạnh tranh. Đây là một dạng kamikaze tập thể. Mà chuyện không dừng ở pin và xe. Nó lan vào mọi ngóc ngách. Smartphone, livestream bán hàng, dạy thêm online, trà sữa, lẩu, AI model, mỗi lĩnh vực đều có cùng kịch bản: vốn rẻ đổ vào, hàng trăm công ty nhảy vào, giá bị cắt đến đáy, vài người sống sót, phần còn lại phá sản. Trong khi ấy, người tiêu dùng được hưởng giá rẻ, nhưng cũng chính họ, khi đứng ở vị trí người lao động, phải trả giá bằng lương trì trệ, công việc bấp bênh, và nỗi sợ ngày mai sa thải.
Khi cả nền kinh tế đông cứng trong tảng băng
Có một số liệu mà nếu bạn là nhà đầu tư cầm cổ phiếu Trung Quốc, chắc chắn phải thuộc lòng. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp PPI của Trung Quốc đã âm liên tục 40 tháng tính đến cuối 2025. Bốn mươi tháng, là ba năm rưỡi không ngừng giảm. Điều chưa từng xảy ra trong lịch sử kinh tế nước này.
Còn nữa. GDP deflator, chỉ số đo lạm phát rộng nhất, bao gồm cả hàng hóa lẫn dịch vụ, đã âm 10 quý liên tiếp. Đây là chuỗi giảm phát dài nhất kể từ thời đại Đặng Tiểu Bình. CPI cả năm 2025 chỉ tăng 0,2%, gần như không nhúc nhích. So sánh với Mỹ cùng giai đoạn, nơi lạm phát còn dao động 2,5–3%, bức tranh đối lập đến mức gần như siêu thực. Giảm phát không phải chuyện vui. Nó nghe như tin tốt với người mua hàng, nhưng với một nền kinh tế thì nó là chất độc chậm. Khi giá giảm liên tục, người tiêu dùng trì hoãn chi tiêu, chờ giá xuống thêm. Doanh nghiệp không dám tăng lương vì doanh thu danh nghĩa không tăng. Nợ thì giữ nguyên, nhưng giá trị thực của nợ thì tăng lên mỗi ngày, vì tiền hôm nay mạnh hơn tiền hôm qua. Đó chính là cái bẫy mà Nhật Bản rơi vào sau 1990 và mất ba thập kỷ mới lò mò ra được, về điều này, Hùng nghĩ bạn nên tìm hiểu thêm về giai đoạn này của nước Nhật, sẽ hiểu thêm tình trạng khó khăn mà Trung Quốc đang phải đối mặt.
Trung Quốc đang đi trên rìa cái bẫy đó. Và nội cuộn là cơ chế trung tâm khiến họ trượt vào. Câu chuyện ở mỗi doanh nghiệp lặp lại theo cùng một kịch bản. Để giành thị phần, hãng A cắt giá. Hãng B cắt giá theo. Cả hai đều mất lợi nhuận, nhưng ai dừng trước thì chết trước. Vậy là cả hai cùng cắt, cùng vay thêm để gồng. Cùng ép nhân công làm việc nhiều hơn để giảm chi phí trên đơn vị sản phẩm. Cùng đẩy hàng tồn ra thị trường nước ngoài. Cùng chờ đối thủ kiệt sức trước. Trên giấy tờ, công ty vẫn “tăng trưởng”, doanh thu vẫn tăng, sản lượng vẫn tăng. Nhưng tiền không vào.
Tôi gọi đó là tăng trưởng zombie. Cỗ máy vẫn chạy, đèn vẫn sáng, doanh số vẫn báo cáo, nhưng bên trong nó đã chết tài chính từ lâu. Nó chỉ chưa chính thức nằm xuống vì ngân hàng quốc doanh chưa kéo cần gạt. Stephen Roach – cựu chủ tịch Morgan Stanley châu Á, người dành ba thập kỷ nghiên cứu Trung Quốc gọi đây là “doublespeak” của chiến dịch chống nội cuộn. Bắc Kinh nói muốn dẹp cạnh tranh kiểu cuộc đua xuống đáy. Nhưng đồng thời họ vẫn duy trì các trợ cấp, các mục tiêu sản lượng, các chương trình tín dụng địa phương khiến các công ty không thể không tiếp tục mở rộng. Tay phải bảo dừng, tay trái vẫn đổ dầu.
Đây không còn là vấn đề điều hành mà là vấn đề của kết cấu.
Tang Ping
Nội cuộn ở cấp vĩ mô là biểu đồ. Ở cấp vi mô, cấp con người, nó là khuôn mặt mệt mỏi của một đứa trẻ mười lăm tuổi ngồi học đến 11 giờ đêm. Là anh kỹ sư phần mềm ở Hàng Châu ăn cơm hộp một mình tại bàn làm việc. Là cô bé tốt nghiệp Bắc Đại không tìm được việc tử tế sau sáu tháng rải hồ sơ.
Gaokao, kỳ thi đại học quốc gia ở Trung Quốc năm 2024 có trên 13 triệu thí sinh, năm thứ sáu liên tiếp vượt mức 10 triệu. Hơn 4 triệu trong số đó là thí sinh thi lại. Ở Hà Bắc có trường Hengshui Trung Học, nơi học sinh dậy lúc 5h30 sáng, học đến 10h tối, ăn cơm trong 15 phút và đi vệ sinh có lịch trình. Đó được coi là trường kiểu mẫu. Phụ huynh xếp hàng đăng ký cho con vào. Tỉ lệ đậu Thanh Hoa, Bắc Đại của nó là tốt nhất nước.
Sau đại học là 996. Nôm na là chín giờ sáng đến chín giờ tối, sáu ngày một tuần. Jack Ma từng gọi đó là “phước lành” cho thanh niên Trung Quốc. Một câu nói mà sau này anh phải im lặng khi dư luận đảo chiều. Vì cùng lúc Jack Ma ca ngợi 996, các bệnh viện bắt đầu báo cáo những ca tử vong tại bàn làm việc của lập trình viên dưới ba mươi tuổi. Trên Bilibili có hẳn một thể loại video kiểu vlog kiệt sức, quay cảnh người trẻ ngồi sụp ở ghế làm việc lúc nửa đêm, ăn mì gói, mắt thâm quầng.
Và rồi đến tang ping — 躺平 — “nằm thẳng”.
Từ này nổi lên năm 2021, khi một bài viết vô danh trên Baidu Tieba lan đi với tiêu đề “Nằm thẳng tức là chính nghĩa.”Tác giả viết về việc anh ta đã quyết định không cố nữa. Không cưới. Không mua nhà. Không sinh con. Không leo thang. Chỉ làm vừa đủ sống, ăn vừa đủ no, nằm xuống và để dòng đời trôi qua. Bài viết bị xóa nhanh chóng. Nhưng từ ngữ thì không xóa được. Tang ping không phải biếng nhác. Nó là một dạng đình công của linh hồn, một thế hệ trẻ Trung Quốc nhìn vào cuộc chơi nội cuộn và nói: tao không chơi nữa. Họ thấy bố mẹ làm việc cả đời mua được căn hộ ở Thượng Hải, rồi giá nhà giảm 30%. Họ thấy anh chị học bảy năm thành thạc sĩ kỹ thuật, rồi đi làm shipper. Họ tính ra rằng để mua một căn hộ trung bình ở Bắc Kinh, một người lương trung bình cần làm việc liên tục 25 năm không ăn không tiêu. Họ không phải kẻ thua cuộc. Họ chỉ là những người đã đọc luật chơi và thấy nó vô lý. Tháng Hai 2025, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên (16–24 tuổi) chính thức ở mức 16,9%. Đó là con số đã được Bắc Kinh “làm đẹp” lại, họ loại sinh viên ra khỏi cách tính sau khi con số nhảy lên 21,3% vào giữa 2023 và gây hoảng loạn. Số liệu thực tế theo các nhà kinh tế độc lập, có thể cao hơn nhiều. Năm 2025, 12,22 triệu sinh viên tốt nghiệp đại học, lứa lớn nhất trong lịch sử, bước vào một thị trường lao động đang co lại vì thương chiến với Mỹ và bị AI làm rối tung.
Có một thuật ngữ mới xuất hiện gần đây: kong xin – 空心 – “rỗng lòng”, từ này thú thật thì tôi cũng không biết dịch ra như thế nào cho hay, tạm thời cứ để vậy. Các trường đại học bắt đầu tổ chức workshop về kong xin bing – “bệnh rỗng lòng” – sau khi nhiều sinh viên hỏi rằng tại sao họ học giỏi, làm đúng mọi thứ được dạy, mà vẫn cảm thấy hoàn toàn vô nghĩa. Một thế hệ làm theo đúng kịch bản, luyện thi gaokao, vào trường top, kiếm việc Big Tech, và đến đích thì thấy đích không có gì.
Khi cả một thế hệ trẻ nhất, học hành nhiều nhất, được kỳ vọng nhiều nhất bắt đầu rỗng lòng và nằm thẳng, đó không còn là vấn đề tâm lý cá nhân. Đó là dấu hiệu một mô hình xã hội đang đứt gãy.
Liệu Bắc Kinh có thể sửa được cỗ máy già cỗi mình đã kỳ công đúc ra?
Từ cuối 2024, “chống nội cuộn” trở thành một slogan chính sách. Hội nghị Công tác Kinh tế Trung ương đưa nó vào văn kiện. Tháng Sáu 2025, dự thảo sửa đổi Luật Giá xuất hiện, mở rộng quyền nhà nước can thiệp khi phát hiện “hành vi định giá không công bằng” và “cạnh tranh kiểu nội cuộn”. Trong mười ngành trọng điểm, từ pin mặt trời, xe điện, đến thép, xi măng, đóng tàu, chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng sản lượng 2025–2026 thấp hơn 2024. Đó là điều chưa từng có. Bắc Kinh tự bảo các tỉnh, các doanh nghiệp nhà nước: làm ít lại đi.
Đến tháng 12/2025, một quỹ thâu mua chiến lược được thành lập với 3 tỷ NDT vốn ban đầu, mục tiêu mua lại và đóng cửa khoảng một phần ba công suất polysilicon hiệu suất thấp toàn ngành. Đây là phiên bản hiện đại của gōngjǐ cèjiégòu xìng gǎigé – cải cách cơ cấu phía cung mà Lý Khắc Cường từng tung ra năm 2015 để dẹp dư thừa thép và than. Chiến dịch đó đã thành công về mặt kỹ thuật. Giá thép phục hồi. Nhưng nó cũng để lại hàng triệu công nhân mất việc và hàng chục thành phố trở thành “thị trấn ma”.
Câu hỏi không phải Bắc Kinh có chống được nội cuộn hay không, bởi vì họ có công cụ hành chính đủ mạnh để bắt một số ngành phải giảm sản lượng. Câu hỏi ở đây là: liệu những điều này có chữa được căn nguyên không?
Mà căn nguyên thì rõ ràng không thể chối bỏ. Nền kinh tế Trung Quốc không thể tiêu thụ những gì mình làm ra, bởi vì cấu trúc thu nhập của họ ép tiêu dùng nội địa xuống mức bất thường thấp. Để tăng tiêu dùng, phải tăng thu nhập khả dụng của hộ gia đình. Để tăng thu nhập khả dụng, phải xây dựng hệ thống an sinh, y tế, hưu trí, thất nghiệp đủ tốt để dân không phải tiết kiệm phòng thân ở mức 30–40% thu nhập. Để xây an sinh, phải chuyển ngân sách từ đầu tư hạ tầng sang chi tiêu xã hội. Mà chuyển như vậy thì các chính quyền địa phương, vốn dựa vào đất đai và đầu tư hạ tầng để có doanh thu sẽ phá sản trước tiên. Nói cách khác, mỗi viên gạch trong tòa nhà này khóa chặt viên gạch kia. Muốn rút một viên ra, phải chấp nhận đập sập một phần. Mà Bắc Kinh thì không có thói quen đập sập bất cứ thứ gì mình đã xây, ít ra tới thời điểm này là như vậy.
Có một quan điểm phổ biến, đặc biệt giữa các blogger phương Tây đọc chữ Hán bằng Google Translate, rằng nội cuộn là dấu hiệu Trung Quốc sắp sụp đổ. Tôi không nghĩ vậy. Một nền kinh tế 18 nghìn tỷ đô không sụp đổ theo kịch bản Hollywood. Nhưng nó có thể bước vào một dạng đông cứng dài hạn kiểu Nhật Bản hậu 1990, nhưng ở quy mô khổng lồ hơn và với hệ quả lan rộng hơn ra thế giới.
Đông cứng nghĩa là gì. Nghĩa là Trung Quốc vẫn tiếp tục là cường quốc sản xuất, không ai có thể cạnh tranh về quy mô và chuỗi cung ứng. Nghĩa là họ tiếp tục xuất khẩu giảm phát ra phần còn lại của thế giới và bán hàng dưới giá thành, ép các nhà sản xuất từ Đức đến Việt Nam đến Mexico phải hoặc thích nghi hoặc đóng cửa. Nghĩa là họ trở thành câu chuyện chính của thương mại toàn cầu trong thập niên này, không phải vì họ giàu lên, mà vì họ không tiêu được hết những gì mình làm, và đẩy ngành sản xuất của các quốc gia khác lâm vào tình cảnh khốn khó vì không thể cạnh tranh với họ.
Điều nghịch lý là chính cái mô hình tạo ra nội cuộn cũng là cái đã giúp Trung Quốc trở thành công xưởng số một thế giới, đẩy giá pin mặt trời xuống mức biến năng lượng tái tạo từ giấc mơ thành hiện thực, và biến xe điện từ sản phẩm xa xỉ thành hàng tiêu dùng phổ thông. Phần thế giới được hưởng những thứ đó, còn người dân Trung Quốc, theo một nghĩa nào đó đã trợ cấp cho cả nhân loại bằng chính tiền lương và sức khỏe tinh thần của họ.
Geertz, khi viết về Java, không có chữ “kết bài”. Cuốn sách của ông kết bằng một quan sát điềm tĩnh: rằng involution không phải là khủng hoảng, nó là một dạng cân bằng. Một thế cân bằng tệ, nhưng có thể kéo dài rất lâu. Đủ lâu để một xã hội vẫn vận hành, dân vẫn ăn cơm, lúa vẫn mọc, đứa trẻ vẫn lớn lên, chỉ là cả hệ thống ấy không đi đâu cả. Đó là điều đáng sợ nhất về nội cuộn Trung Quốc. Không phải nó sẽ nổ tung, khi mà nó không nổ tung, và cứ thế mà thấm dần từ đời này qua đời khác, trong khi thế hệ trẻ nhất “nằm thẳng” và chờ, và điều tôi lo sợ đó chính là nó đã và đang lan rộng ra toàn thế giới.
Bài viết tham khảo từ các nguồn:
- Carnegie Endowment – What’s New about Involution?
- Bloomberg – China’s Involution Problem
- Fortune – BYD unleashes an EV industry reckoning
- CSIS – China’s Solar Industry Is in Upheaval
- Rhodium Group – No Quick Fixes: China’s Long-Term Consumption Growth
- Liberty Street Economics (NY Fed) – Why Investment-Led Growth Lowers Chinese Living Standards
- Stephen Roach – The Doublespeak of China’s Anti-Involution Campaign
- Asia Society – The 19 Percent Revisited: Youth Unemployment in China
- Geertz, Agricultural Involution (1963) – Wikipedia

Để lại một bình luận