Buổi tối ngày 11/9, và hai mươi lăm năm sau
Tôi sinh năm 1988. Tháng 9/2001, tôi vào lớp 8; khai giảng ngày 5/9. Sáu ngày sau, chuyện xảy ra.
Tôi không nhớ chính xác mình biết cái tin đó vào ngày nào, chỉ nhớ một buổi trong tuần ấy, cô giáo dạy Hóa của tôi bước vào lớp mà không giảng bài ngay. Cô kể về một tòa nhà ở Mỹ, về những chiếc máy bay, về những người phải nhảy xuống. Cô mới gặp chúng tôi được vài buổi, và môn Hóa chẳng cho cô lý do nghề nghiệp nào để nói về chuyện đó, nhưng cô vẫn kể, vì có những chuyện người lớn không thể giữ mãi ở trong lòng.
Đó là chi tiết tôi nhớ rõ nhất về ngày 11/9. Không phải hình ảnh hai tòa tháp, thay vào đó là một cô giáo Hóa ở Việt Nam, cách New York mười tám ngàn cây số, đứng trước lũ trẻ mười ba tuổi và đặt giáo án xuống để kể về nó.
Hai mươi lăm năm rồi. Tôi đã đủ già để hỏi những câu hỏi mà đứa bé lớp 8 ngày ấy không tài nào hỏi được. Và khi lần theo từng con số, tôi nhận ra câu chuyện mình tưởng đã biết thật ra chỉ mới là chương mở đầu - chương ngắn nhất, và cũng ít chết chóc nhất.
1. Ở Việt Nam, ngày định mệnh ấy là một buổi tối như thường lệ
Điều đầu tiên tôi nhận ra khi ngồi tra lại múi giờ là vào mùa hè, New York chậm hơn Sài Gòn mười một tiếng. Quy đổi sang giờ Việt Nam, toàn bộ sự kiện buổi sáng hôm đó diễn ra như sau:
| Giờ New York | Giờ Việt Nam | Sự việc |
|---|---|---|
| 8:46 | 19:46 | Chuyến AA11 đâm vào Tháp Bắc, tầng 93–99 |
| 9:03 | 20:03 | Chuyến UA175 đâm vào Tháp Nam, tầng 77–85 |
| 9:37 | 20:37 | Chuyến AA77 đâm vào Lầu Năm Góc |
| 9:59 | 20:59 | Tháp Nam sụp đổ |
| 10:03 | 21:03 | Chuyến UA93 rơi xuống cánh đồng Shanksville, Pennsylvania |
| 10:28 | 21:28 | Tháp Bắc sụp đổ |
| 17:20 | 04:20 (12/9) | Tòa nhà số 7 của WTC sụp đổ |
Nghĩa là toàn bộ chuyện đó diễn ra đúng vào giờ cơm tối của người Việt. Trong lúc hai tòa nhà cao nhất New York đổ xuống, nhà tôi có lẽ vẫn đang mạnh ai nấy bới một tô cơm. Không ai hay biết gì.
Vào năm 2001, Việt Nam có khoảng 78 triệu dân, nhưng chưa tới hai phần trăm trong số đó dùng Internet. Dịch vụ này mới chính thức vào Việt Nam từ tháng 11/1997; đến cuối năm 2001 mới có trên dưới 1,3 triệu người dùng, chủ yếu ở hai thành phố lớn và kết nối qua đường điện thoại quay số, hay còn gọi là dial-up. Không Facebook. Không điện thoại thông minh. iPhone còn phải sáu năm nữa mới ra đời. Tin tức được truyền đi bằng sóng truyền hình và giấy báo. Đến tận sáng hôm sau, ngày 12/9, báo mới ra. Rồi từ những tờ báo, tin tức đi tiếp bằng lời kể: qua quán cà phê, cơ quan, bữa cơm và lớp học.
Tôi nghĩ chính độ trễ đó giải thích vì sao ký ức của tôi là ký ức về một người kể lại, chứ không phải một hình ảnh trên màn hình. Nhiều người Mỹ nhớ 11/9 qua truyền hình trực tiếp: họ đang nhìn tòa tháp thứ nhất cháy thì chiếc máy bay thứ hai bay vào khung hình. Còn thế hệ tôi ở Việt Nam nhớ nó qua giọng kể của một người lớn đang bàng hoàng trước một tin tức quá sức tưởng tượng.
Và tôi tự hỏi: tại sao người lớn Việt Nam lại thấy kinh hãi đến vậy trước một chuyện xảy ra ở nơi mà phần lớn họ sẽ không bao giờ đặt chân tới?
Tôi nghĩ vì đây là lần đầu tiên trong đời họ, điều không thể tưởng tượng nổi lại xảy ra ở nơi tưởng như an toàn nhất. Việt Nam khi ấy vừa ra khỏi chiến tranh chưa lâu; thế hệ cha mẹ tôi hiểu bom đạn là gì, hiểu tiếng còi báo động là gì. Nhưng bom đạn ở Việt Nam nằm trong một câu chuyện có logic: có chiến tuyến, có bên này bên kia, có nguyên nhân mà người lớn còn có thể giải thích cho bọn trẻ con. Còn chuyện xảy ra ở tận New York dường như không có bất kỳ logic nào. Người ta đi làm buổi sáng, pha cà phê, bật máy tính; rồi ba nghìn người chết trước giờ ăn trưa, bởi chính những chiếc máy bay chở khách mà họ vẫn đi lại quen thuộc.
Nếu chuyện đó có thể xảy ra ở Mỹ, ngay giữa New York, thì nó cũng có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào, bất kì lúc nào. Tôi nghĩ đó mới là điều khiến cô giáo Hóa của tôi đặt giáo án xuống.
Còn một chuyện khác, mãi sau này tôi mới nhìn ra. Tháng 9/2001, quan hệ Việt – Mỹ đang ở đúng khúc bản lề: Hiệp định Thương mại Song phương (BTA) được ký tháng 7/2000; Tổng thống Bill Clinton thăm Việt Nam tháng 11/2000, trở thành nguyên thủ Mỹ đầu tiên đặt chân tới Hà Nội kể từ chiến tranh. Hiệp định ấy chính thức có hiệu lực ngày 10/12/2001, đúng ba tháng sau vụ tấn công.
Gần như không ai ở Việt Nam để ý đến cột mốc đó vào lúc ấy, vì cả thế giới đang nhìn về Kabul. Tôi sẽ quay lại chuyện này ở cuối bài, vì tôi cho rằng đó là một trong những hệ quả lớn nhất của 11/9 đối với chính chúng ta, và là hệ quả mà người Việt Nam gần như không bao giờ nhắc tới.
2. Một trăm lẻ hai phút, và những con số
Tôi từng nghĩ con số quan trọng nhất của 11/9 là số người chết: 2.977 người, không tính đến 19 tên không tặc. Chia ra thì:
- 2.753 người ở khu World Trade Center, New York
- 184 người ở Lầu Năm Góc (125 người trong tòa nhà, 59 hành khách và phi hành đoàn trên chuyến AA77)
- 40 người trên chuyến UA93 rơi ở Pennsylvania
- Trong tổng số đó, 246 người là hành khách và phi hành đoàn trên bốn chuyến bay. Không một ai trên bốn chiếc máy bay ấy sống sót.
Nhưng càng đọc, tôi càng thấy con số 2.977 là con số ít có tiếng nói nhất trong cả câu chuyện. Nó chỉ nói lên rằng có bao nhiêu người chết, nhưng những con số khác mới cho chúng ta thấy chuyện gì đã thực sự đã diễn ra.
Mười bảy phút
Khoảng cách giữa cú đâm thứ nhất (8:46) và cú đâm thứ hai (9:03).
Trong mười bảy phút đó, cả thế giới vẫn tin rằng đây là một tai nạn hàng không khủng khiếp, và các đài truyền hình đã kịp hướng máy quay về tòa tháp đang cháy. Đến lúc chiếc máy bay thứ hai lao vào khung hình, hàng trăm triệu người đang theo dõi trực tiếp. Đó là khoảnh khắc “tai nạn” biến thành “khủng bố”, và nhân loại chứng kiến sự dịch chuyển ý nghĩa ấy cùng một lúc, theo đúng nghĩa đen. Tôi không nghĩ từng có nhiều sự kiện trong lịch sử mà ý nghĩa của nó thay đổi ngay trước mắt hàng trăm triệu người như vậy: không phải một sự kiện được kể lại sau đó, mà chính ý nghĩa của nó tự bộc lộ trực tiếp, không thông qua trung gian hay cần lời giải thích nào.
Một trăm lẻ hai phút
Từ lúc Tháp Bắc bị đâm (8:46) đến lúc nó đổ sập (10:28).
Đó là toàn bộ thời gian mà con người còn có thể làm được điều gì đó, để giải cứu hay để cứu vãn tình hình. Có một cuốn sách mang đúng cái tên ấy, 102 Minutes, của Jim Dwyer và Kevin Flynn. Tựa sách nghe như một lời buộc tội lặng lẽ: mọi nỗ lực giải cứu đều phải nằm gọn trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó. Sau phút thứ 102, không còn bất cứ cái gì hay người nào để cứu lấy nữa.
Năm mươi sáu phút
Tháp Nam. Nó bị đâm sau nhưng đổ trước.
Lý do rất vật lý, đơn thuần là vật lý, mà những gì thuần vật lý thì thường tàn nhẫn: chiếc máy bay đâm vào Tháp Nam ở tầng thấp hơn (77–85, so với 93–99 ở Tháp Bắc), nên khối lượng công trình đè lên phần kết cấu bị hủy hoại lớn hơn nhiều - thêm khoảng 30 tầng. Người ở Tháp Nam tưởng mình có nhiều thời gian hơn, vì tòa bên kia bị đâm trước mà vẫn còn đứng đó. Thực tế còn tệ hơn: sau khi Tháp Bắc bị đâm, hệ thống phát thanh của Tháp Nam khuyên người bên trong quay lại bàn làm việc, vì tòa nhà được cho là an toàn. Nhiều người đã xuống tới sảnh rồi quay ngược lên trên. Mười sáu phút sau, chiếc máy bay thứ hai đâm sầm vào.
Khoảng mười giây
Thời gian mỗi tòa tháp sụp xuống gần bằng thời gian đủ để một vật rơi tự do từ độ cao đó. Một trăm mười tầng. Cao 417 mét và 415 mét. Mất bảy năm để xây dựng, hoàn thành năm 1973. Mỗi ngày thường có khoảng 50.000 người tới để làm việc và hàng chục nghìn khách ra vào. Xin nhắc lại là chỉ vỏn vẹn trong mười giây.
17.400 và 50.000
Lúc 8 giờ 46 sáng, theo ước tính của Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Mỹ (NIST), trong hai tòa tháp có khoảng 17.400 người. Sức chứa tối đa của chúng vào khoảng 50.000 người. Nhóm không tặc chọn giờ sớm vì những lý do kỹ thuật: máy bay đường dài mang đầy nhiên liệu, chuyến sớm ít khách nên dễ khống chế hơn. Mục tiêu dường như không phải tối đa hóa số người chết trong tòa nhà. Nếu chúng chọn muộn hơn một tiếng, khi những văn phòng đã đông đủ, con số tử vong có thể cao hơn gấp nhiều lần.
Ba ngàn người chết vì một sự tình cờ về giờ giấc. Và mấy chục ngàn người sống vì cùng một sự tình cờ đó.
1.355 và 18
Ở Tháp Bắc, có 1.355 người ở tại và phía trên tầng bị đâm, và không một ai sống sót. Cả ba cầu thang bộ đều bị cắt đứt ngay trong giây đầu tiên. Với 1.355 con người ấy, số phận gần như đã được định đoạt từ lúc va chạm; một trăm lẻ hai phút sau đó chỉ còn là thời gian chờ đợi, và nhiều người trong số họ đã dùng quãng thời gian ấy để gọi điện thoại về nhà.
Ở Tháp Nam, một cầu thang - Stairwell A - tình cờ nằm lệch khỏi đường đâm và còn thông. Mười tám người đã đi qua nó và sống sót từ phía trên điểm va chạm.
Mười tám mạng người được giữ lại chỉ vì một cầu thang tình cờ nằm lệch vài mét.
87% - và bài học từ năm 1993
Đây là con số hiếm hoi mang tin tốt trong ngày hôm ấy: theo điều tra của NIST, khoảng 87% số người ở dưới điểm va chạm đã thoát ra ngoài an toàn. Vì sao? Vì đây không phải lần đầu WTC bị tấn công. Ngày 26/2/1993, một quả bom xe trong tầng hầm đã giết 6 người và làm hơn 1.000 người bị thương. Cuộc sơ tán năm 1993 là một thảm họa riêng: mất khoảng bốn tiếng, cầu thang thì tối om, không ai biết đường đi.
Sau lần đó, người ta lắp đèn dạ quang dọc cầu thang, sơn vạch phản quang, tổ chức diễn tập sơ tán định kỳ. Tám năm sau, chính những thứ tẻ nhạt đó đã cứu hàng nghìn mạng người.
Và một người cụ thể: Rick Rescorla, giám đốc an ninh của Morgan Stanley - một công ty thuê 22 tầng ở Tháp Nam với khoảng 2.700 nhân viên. Sau vụ 1993, Rescorla kết luận rằng WTC sẽ bị tấn công nữa, và ông bắt toàn bộ nhân viên diễn tập sơ tán hai lần mỗi năm, xuống cầu thang từng đôi một, kể cả các lãnh đạo cấp cao vốn rất ghét chuyện này.
Sáng 11/9, khi hệ thống phát thanh của tòa nhà bảo mọi người quay lại bàn làm việc, Rescorla cầm loa tay và ra lệnh ngược lại: đi xuống, ngay. Gần như toàn bộ 2.700 người của Morgan Stanley thoát ra. Rescorla quay ngược lên để tìm những người còn sót. Còn ông đã chết trong đó.
Chi tiết mà tôi nghĩ người Việt nên biết: Rick Rescorla là cựu binh chiến tranh Việt Nam. Ông có mặt ở thung lũng Ia Drang năm 1965 - trận đánh lớn đầu tiên giữa quân đội Mỹ và quân Giải phóng, trận đánh sau này thành phim We Were Soldiers. Bức ảnh người lính cầm lưỡi lê trên bìa cuốn hồi ký về trận đó chính là ông. Một người từng đi qua Ia Drang, ba mươi sáu năm sau, cứu 2.700 người ở New York rồi chết trong đống đổ nát. Lịch sử đôi khi thắt nút theo những cách không ai viết kịch bản nổi.
Hai mươi
Số người được kéo ra còn sống từ đống đổ nát WTC. Chỉ hai mươi người, trong suốt hơn tám tháng đào bới.
Người cuối cùng là Genelle Guzman-McMillan, được tìm thấy sau hai mươi bảy tiếng. Sau cô, không còn ai được cứu sống nữa.
Điều đó có nghĩa là: cuộc “tìm kiếm cứu nạn” trên thực tế đã kết thúc từ trưa ngày 12/9. Nhưng người ta còn đào thêm hơn hai trăm ngày nữa -không phải để tìm người sống, mà để tìm những mảnh xương còn lại trong đống đổ nát.
Khoảng hai trăm
Là số người đã rơi hoặc nhảy khỏi tòa tháp.
Cơ quan giám định pháp y New York xếp toàn bộ những cái chết ấy vào loại bị sát hại (homicide) - không phải tự tử. Đó là một phân loại pháp y, nhưng đồng thời cũng là một tuyên bố đạo đức: những người ấy không lựa chọn cái chết; họ bị đẩy tới chỗ chỉ còn có thể lựa chọn cách mình chết.
Bức ảnh nổi tiếng nhất trong nhóm này, The Falling Man của Richard Drew, bị hầu hết báo chí Hoa Kỳ rút xuống chỉ sau một ngày vì độc giả phản ứng dữ dội. Người trong ảnh đến nay vẫn chưa được xác định danh tính chắc chắn. Đó có lẽ là bức ảnh trung thực nhất và bị chối bỏ nhiều nhất của thế kỷ 21.
Những con số của người ở lại
- Nạn nhân là công dân của hơn 90 quốc gia. WTC là một tòa nhà của thế giới theo đúng nghĩa đen - đó là điều bọn tấn công hoặc không biết, hoặc không quan tâm.
- Nạn nhân nhỏ tuổi nhất: Christine Lee Hanson, 2 tuổi rưỡi, trên chuyến UA175 cùng bố mẹ. Gia đình đang đi Disneyland.
- Nạn nhân lớn tuổi nhất: Robert Norton, 85 tuổi, trên chuyến AA11, đang bay đi dự đám cưới con trai.
- Khoảng 3.000 trẻ em mất cha hoặc mẹ trong ngày hôm ấy.
- 343 lính cứu hỏa Sở Cứu hỏa New York (FDNY), 37 cảnh sát Cảng vụ, 23 cảnh sát New York (NYPD) hy sinh. Tổng cộng hơn 400 nhân viên ứng cứu - con số thiệt hại lớn nhất của lực lượng cứu hộ trong một sự kiện đơn lẻ trong lịch sử nước Mỹ.
Về con số 343: điều làm nó nặng nề không chỉ là độ lớn, mà còn là hướng di chuyển. Gần như tất cả 17.400 người trong hai tòa tháp đều đang tìm đường chạy xuống, trong khi hơn bốn trăm nhân viên ứng cứu lại đi lên. Họ mang theo trung bình 45 kg thiết bị, leo thang bộ và hoàn toàn nhận biết được điều gì đang chờ đợi mình. Đó là một trong những hành động tập thể vừa phi lý vừa cao quý nhất mà tôi từng được biết.
Và 19
Chỉ mười chín người làm ra tất cả những chuyện trên. Trong đó chỉ bốn người là phi công được đào tạo. Mười lăm trong mười chín là công dân Ả Rập Xê Út - một quốc gia mà sau đó không hề bị tấn công, và vẫn là đồng minh của Mỹ suốt hai mươi lăm năm qua.
Mười chín người, khoảng nửa triệu đô la, và một buổi sáng. Tôi sẽ quay lại tỷ lệ này ở phần 4, vì tôi cho rằng đó là con số quan trọng nhất trong toàn bộ bài viết.
Những con số bên lề mà tôi không lược bỏ được
Mười bốn. Là số máy bay tiêm kích ở trạng thái trực chiến trên toàn bộ lãnh thổ lục địa nước Mỹ sáng hôm ấy. Mười bốn chiếc, cho một quốc gia rộng chín triệu cây số vuông. Hệ thống phòng không của họ được thiết kế để nhìn ra bên ngoài, chống tên lửa Liên Xô - không ai từng tính đến chuyện mối đe dọa cất cánh từ chính sân bay Boston ở trong nước.
Hai chiếc F-16 không mang vũ khí. Sáng hôm đó, hai phi công từ căn cứ Andrews - Heather Penney và Marc Sasseville - được lệnh cất cánh chặn chuyến UA93. Không kịp lắp tên lửa. Họ bàn nhau trong vài giây và quyết định sẽ đâm thẳng vào chiếc máy bay chở khách: Sasseville lao vào buồng lái, Penney lao vào đuôi. Cả hai quyết định coi như đó là chuyến bay một chiều. Nhưng thực tế thì họ không cần phải làm điều đó, vì hành khách trên UA93 đã tự làm trước rồi.
Một ngày đầu tiên đi làm. Ben Sliney, người ra lệnh đóng toàn bộ không phận nước Mỹ lúc 9:45 sáng, hôm ấy là ngày đầu tiên ông nhận chức Giám đốc Điều hành Quốc gia của Cục Hàng không Liên bang. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử toàn bộ bầu trời nước Mỹ bị đóng cửa.
4.500 máy bay. Số máy bay đang bay trên bầu trời Mỹ lúc đó, tất cả đã hạ cánh an toàn trong khoảng hai tiếng rưỡi. Không một tai nạn nào. Đó là một kỳ tích hậu cần mà gần như không ai nhắc tới.
255 máy bay, 33.000 hành khách bị chuyển hướng sang Canada - Chiến dịch Yellow Ribbon. Riêng thị trấn Gander ở Newfoundland, dân số khoảng 9.600 người, đón 38 máy bay và khoảng 6.600 hành khách - nghĩa là dân số thị trấn tăng gần 70% trong một buổi chiều. Người dân Gander mở trường học, nhà thờ, nhà riêng, nấu ăn cho những người lạ này suốt năm ngày, không thu lấy một xu. Câu chuyện đó về sau thành vở nhạc kịch Broadway Come From Away.
500.000 người. Số người được sơ tán khỏi đảo Manhattan bằng đường thủy trong chưa đầy chín tiếng - tàu phà, tàu kéo, thuyền du lịch, bất cứ thứ gì nổi được đều tự động chạy tới. Đây là cuộc sơ tán đường biển lớn nhất lịch sử nhân loại. Để so sánh: cuộc rút quân Dunkirk năm 1940 đã di dời được 338.226 người, trong chín ngày.
Tôi ghi nhớ con số này vì nó giống một câu trả lời trực tiếp cho câu hỏi “con người là gì”: trong cùng một buổi sáng, mười chín người chứng minh một điều, còn năm trăm nghìn người cùng vài trăm chủ thuyền chứng minh điều ngược lại.
Tiền, ngay trong tuần đầu
- Sàn chứng khoán New York đóng cửa bốn phiên - đợt đóng cửa dài nhất kể từ năm 1933. Mở lại ngày 17/9, chỉ số Dow Jones mất 684,81 điểm (7,1%) trong một ngày, mức giảm điểm kỷ lục lúc bấy giờ; cả tuần mất khoảng 14%.
- Thiệt hại bảo hiểm khoảng 40 tỷ đô - vụ tổn thất bảo hiểm lớn nhất lịch sử tính đến thời điểm đó.
- 1,8 triệu tấn đống đổ nát được dọn đi, kết thúc ngày 30/5/2002, sớm hơn dự kiến rất nhiều, với chi phí khoảng 750 triệu đô và hơn 3 triệu giờ công.
Và cái giá của một mạng người
Đây là phần mà tôi nghĩ ít người biết nhất, và là phần buộc người ta phải dành thời gian để nghĩ đi nghĩ lại lâu nhất.
Quốc hội Mỹ lập Quỹ Bồi thường Nạn nhân (VCF) chỉ mười một ngày sau vụ tấn công, giao cho luật sư Kenneth Feinberg điều hành. Mục đích thật của quỹ, nói thẳng ra, là để các gia đình không khởi kiện các hãng hàng không - nếu tất cả cùng đâm đơn kiện, ngành hàng không Mỹ có thể đã phải sụp đổ.
Quỹ này ban đầu chi trả khoảng 7 tỷ đô cho 5.560 hồ sơ; 97% gia đình đủ điều kiện đã tham gia. Mức bồi thường trung bình cho một trường hợp tử vong là khoảng 2,08 triệu đô.
Nhưng chữ “trung bình” chính là nơi có vấn đề. Vì luật yêu cầu tính theo thiệt hại kinh tế - tức thu nhập dự kiến còn lại của người đã mất - nên một nhà môi giới trái phiếu 30 tuổi ở tầng 104 có thể được tính mức bồi thường khoảng 6–7 triệu đô, còn một người rửa chén ở nhà hàng Windows on the World, chết cùng thời điểm và trong cùng tòa nhà, chỉ nhận được khoảng 250 nghìn.
Feinberg phải ngồi đối diện với hàng nghìn gia đình để giải thích công thức đó. Nhiều năm sau, trong cuốn sách What Is Life Worth?, ông viết rằng nếu được làm lại, ông sẽ chi trả cho mọi gia đình một số tiền như nhau, bởi công thức ấy cho dù đúng luật pháp đi chăng nữa vẫn sai trái khi được nhìn nhận từ phía con người, nói đúng hơn là thiếu đi cái tình người.
Tôi nghĩ đó là một trong những thừa nhận trung thực nhất mà một quan chức chính phủ từng viết ra. Và nó đặt ra một câu hỏi mà không xã hội nào trả lời được gọn ghẽ: khi nhà nước phải quy đổi mạng người ra tiền - và nhà nước sẽ phải làm điều đó, trong bảo hiểm, trong bồi thường tai nạn, trong tính toán an toàn giao thông - thì nó nên dùng thước đo nào? Thước đo “người này kiếm được bao nhiêu” là thước đo duy nhất đo được. Nó cũng là thước đo nói rằng có những mạng người đáng giá hai mươi tám lần một mạng người khác.
3. Bụi: cuộc giết người chậm chạp, kéo dài hai mươi lăm năm
Đây là phần mà hồi còn học lớp 8 tôi không thể biết, và có lẽ cũng là phần ít người biết tới nhất. Nếu bạn chỉ ghi nhớ được một điều từ bài viết này, tôi mong đó là điều dưới đây.
Chúng ta thường nghĩ sự kiện ngày 11/9 kết thúc lúc 21 giờ 28 tối hôm ấy theo giờ Việt Nam, hoặc chậm nhất là ngày 30/5/2002, khi chiếc xe tải cuối cùng chở nốt phần cuối trong 1,8 triệu tấn đổ nát ra khỏi Ground Zero.
Không phải. Nó vẫn tiếp tục giết rất nhiều người.
Đám mây
Khi cả hai tòa tháp đổ xuống, chúng không chỉ “sập” theo nghĩa vỡ thành những mảng lớn; chúng bị nghiền nát. Một trăm mười tầng bê tông, thạch cao, kính, thảm, đồ gỗ, máy tính, amiăng, chì, thủy ngân, sợi thủy tinh và nhựa cháy, cùng hàng chục ngàn tấn nhiên liệu lẫn vật liệu văn phòng, tất cả bị nghiền thành một đám mây bụi phủ kín Hạ Manhattan trong nhiều ngày.
Thứ bụi ấy có độ pH lên tới khoảng 12 ở nhiều mẫu thử - tức là kiềm mạnh, gần bằng chất thông cống. Nó không chỉ bám vào phổi; nó ăn mòn đường hô hấp. Các bác sĩ nhanh chóng phải đặt tên cho một hội chứng mới: WTC cough - hay còn gọi là "ho World Trade Center".
Người ta hít thứ bụi ấy trong nhiều tuần, và người phơi nhiễm không chỉ có lính cứu hỏa mà còn có công nhân dọn dẹp, tài xế, tình nguyện viên, nhân viên văn phòng quay lại làm việc, cư dân trở về căn hộ, cùng học sinh tại những ngôi trường chỉ cách hiện trường vài trăm mét đã mở cửa trở lại từ cuối tháng 9. Ước tính có khoảng 400.000 người bị phơi nhiễm ở mức đáng kể tại Hạ Manhattan.
Câu nói dối
Ngày 18/9/2001 - bảy ngày sau vụ tấn công - Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA), qua lời người đứng đầu là bà Christine Todd Whitman, tuyên bố với công chúng New York rằng không khí ở đó “an toàn để hít thở”.
Câu khẳng định ấy không hề đúng chút nào.
Năm 2003, chính Tổng Thanh tra nội bộ của EPA công bố báo cáo kết luận rằng: vào thời điểm đưa ra tuyên bố, EPA không có đủ dữ liệu để nói ra câu đó; và Hội đồng Chất lượng Môi trường của Nhà Trắng đã can thiệp vào bản thông cáo, thêm vào những câu trấn an và bỏ bớt những câu cảnh báo người dân.
Vì sao họ lại nói như vậy? Bởi Phố Wall cần mở cửa trở lại, nước Mỹ cần chứng minh rằng mình không bị khuất phục, và một thành phố đang hoảng loạn cần được trấn an rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn thỏa. Đó là một lời nói dối có động cơ dễ hiểu, thậm chí có thể được biện minh bằng thiện chí, nhưng hậu quả của nó có thể đã kéo dài lâu hơn và giết chết nhiều người hơn chính vụ tấn công.
Những con số của cái chết chậm
Tính đến những năm gần đây:
- Hơn 130.000 người đã ghi danh vào Chương trình Sức khỏe World Trade Center (WTC Health Program) do liên bang quản lý - lính cứu hỏa, cảnh sát, công nhân dọn dẹp, cư dân, học sinh, nhân viên văn phòng.
- Trong số đó, hơn 25.000 người đã được xác nhận mắc ung thư liên quan đến phơi nhiễm 11/9. Danh sách bệnh được chương trình công nhận có trên 60 loại ung thư khác nhau, cộng với các bệnh hô hấp mạn tính, trào ngược, và rối loạn stress sau sang chấn.
- Số thành viên chương trình đã chết vì bệnh liên quan đã vượt 6.000 người - tức gấp đôi số người chết trong ngày 11/9.
Và con số mang tính biểu tượng nhất: Sở Cứu hỏa New York mất 343 người trong ngày hôm đó. Đến khoảng năm 2023–2024, FDNY thông báo rằng số thành viên của họ đã chết vì bệnh liên quan tới bụi WTC đã ngang bằng, rồi vượt qua con số 343.
Nghĩa là: ngành cứu hỏa New York mất nhiều người vì đống đổ nát hơn là vì hai tòa nhà đổ xuống.
Người đầu tiên trong danh sách dài đó, ít nhất là người đầu tiên được chính thức thừa nhận, tên là James Zadroga - thám tử NYPD, làm việc hàng trăm giờ ở Ground Zero, chết năm 2006 ở tuổi 34 vì bệnh phổi. Cuộc khám nghiệm tử thi của anh là bằng chứng pháp y đầu tiên kết nối trực tiếp cái chết của một nhân viên ứng cứu với bụi WTC. Đạo luật hỗ trợ y tế cho các nạn nhân, thông qua năm 2010 - chín năm sau vụ tấn công, mang tên của anh.
Một nghìn một trăm cái tên chưa có
Đây là con số làm tôi phải dừng lại lâu nhất trong toàn bộ quá trình viết bài này.
Trong 2.753 người thiệt mạng tại World Trade Center, khoảng 1.100 người chưa bao giờ được nhận dạng, tương đương xấp xỉ 40%. Không một mảnh xương hay một mẩu mô nào được xác định là của họ.
Với khoảng 1.100 gia đình, sau hai mươi lăm năm, không có gì để chôn cất cả. Và đây là phần khiến câu chuyện này khác mọi thảm họa khác mà tôi biết: Phòng Giám định Pháp y New York (OCME) vẫn đang tiếp tục làm việc. Họ vẫn giữ khoảng 7.900 mảnh hài cốt chưa xác định trong một nhà kho lạnh nằm ngay dưới đài tưởng niệm - không phải ở nghĩa trang, mà ở chính hiện trường. Mỗi khi công nghệ giám định ADN tiến thêm một bước, họ phải chạy lại toàn bộ mẫu.
Vì vậy, cứ vài năm lại có thêm một hoặc hai cái tên được xác nhận, và một gia đình nào đó nhận được cuộc điện thoại mà họ đã đợi chờ suốt hai mươi năm. Đến bây giờ vẫn còn nhiều gia đình tiếp tục chờ đợi những cuộc gọi như vậy từ phía chính quyền.
Tôi nghĩ đây là hình ảnh chính xác nhất cho toàn bộ sự kiện: một phòng thí nghiệm nằm dưới lòng đất, miệt mài suốt hai mươi lăm năm để ghép lại những gì lửa và bê tông đã nghiền nát. Nhìn theo cách ấy, 11/9 không còn là một sự kiện đã kết thúc, mà là một quá trình vẫn đang tiếp diễn cho đến hiện tại.
Và họ đã phải đi xin
Có một chi tiết ở đây mà tôi không bỏ qua được, vì nó nói nhiều về bản chất của chính trị hơn bất cứ điều gì khác trong câu chuyện này.
Những người mắc bệnh vì thứ bụi của sự kiện năm ấy đã phải đi xin tiền để chữa bệnh.
Quỹ Bồi thường Nạn nhân được mở lại năm 2011 để mà chi trả cho người bệnh, nhưng đến năm 2019 thì cạn tiền. Ban quản lý quỹ buộc phải thông báo cắt giảm mức chi trả cho các hồ sơ đang chờ - từ 50% đến 70%.
Để quỹ được cấp vốn vĩnh viễn, những người lính cứu hỏa và cảnh sát đang mang bình oxy phải tự đến Quốc hội ngồi điều trần. Tháng 6/2019, thám tử Luis Alvarez của đội gỡ bom NYPD ra làm chứng khi đang ở giai đoạn cuối của ung thư gan; ông nói rằng ông vừa hoãn đợt hóa trị thứ 69 để có mặt ở đó. Mười tám ngày sau, ông qua đời.
Cùng phiên điều trần ấy, diễn viên hài Jon Stewart đứng lên và chửi thẳng vào những hàng ghế nghị sĩ để trống - bài phát biểu ấy lan rộng khắp nước Mỹ. Đạo luật cấp vốn vĩnh viễn cho quỹ (đến năm 2092) được ký tháng 7/2019. Mười tám năm sau vụ tấn công, một quốc gia đã tiêu tám nghìn tỷ đô cho những cuộc chiến nhân danh chính ngày hôm ấy vẫn còn phải tranh cãi xem có nên chi trả tiền thuốc cho những người đã quên thân mình chạy vào trong tòa tháp ấy hay không.
Tôi nghĩ khoảng cách giữa hai con số ấy - tám nghìn tỷ để trả thù, và một cuộc mặc cả kéo dài mười tám năm để trả tiền thuốc men - chính là chân dung đầy đủ nhất của phản ứng hậu 11/9.
4. Năm trăm nghìn đô đổi lấy tám nghìn tỷ
Nếu chỉ được giữ lại một con số duy nhất từ toàn bộ bài này, tôi sẽ giữ tỷ lệ dưới đây.
Ủy ban Điều tra 11/9 của Quốc hội Mỹ ước tính toàn bộ chi phí để thực hiện vụ tấn công - học phí trường bay, vé máy bay, thuê nhà, sinh hoạt, đi lại cho mười chín người trong gần hai năm vào khoảng 400.000 đến 500.000 đô la Mỹ.
Dự án Costs of War của Đại học Brown ước tính tổng chi phí các cuộc chiến mà nước Mỹ tiến hành sau đó, tính đến năm tài khóa 2022 và bao gồm cả nghĩa vụ chăm sóc cựu binh trong tương lai, là khoảng tám nghìn tỷ đô la.
Tỷ lệ đòn bẩy là khoảng một ăn mười sáu triệu.
Tôi ngồi nhìn con số đó rất lâu, bởi khó để mà nghĩ ra một phi vụ tài chính, một vụ lừa đảo hay một cuộc chiến tranh nào có tỷ lệ đòn bẩy khủng khiếp đến vậy. Và điều quan trọng nhất là phần lớn khoản tám nghìn tỷ ấy không phải chi phí trực tiếp do những kẻ tấn công gây ra. Chúng bỏ ra nửa triệu đô để châm ngòi; phần còn lại đến từ những quyết định mà bên bị tấn công, tức là chính phủ Hoa Kỳ, đã đưa ra sau đó.
Con số người chết cũng theo đúng logic đó:
- 2.977 người chết ngày 11/9/2001.
- Costs of War ước tính khoảng 940.000 người đã chết trực tiếp vì bạo lực trong các cuộc chiến hậu 11/9 ở Afghanistan, Pakistan, Iraq, Syria, Yemen và những nơi khác.
- Nếu tính cả tử vong gián tiếp - đói, bệnh, hệ thống y tế và nước sạch sụp đổ, di dân - con số ước tính lên tới khoảng 4,5 đến 4,7 triệu người.
Một con số gấp khoảng ba trăm lần; con số còn lại gấp hơn một nghìn năm trăm lần.
Dưới đây là những sai lầm cụ thể, mỗi cái có một con số riêng. Tôi xếp chúng theo thứ tự thời gian, vì tôi muốn cho thấy chúng nối vào nhau nhanh đến mức nào.
Sáu mươi chữ (14/9/2001)
Ba ngày sau vụ tấn công, Quốc hội Mỹ thông qua Nghị quyết Ủy quyền Sử dụng Vũ lực Quân sự, gọi tắt là AUMF. Văn bản chỉ dài khoảng sáu mươi từ, nhưng đã trao cho tổng thống quyền sử dụng vũ lực chống lại “những quốc gia, tổ chức hoặc cá nhân” mà ông xác định là có liên quan đến vụ tấn công.
Sáu mươi từ ấy được viết trong ba ngày, giữa cơn choáng váng, nóng giận, và không hề có ngày hết hiệu lực.
Trong hai mươi năm sau đó, các đời tổng thống Bush, Obama, Trump và Biden - đã viện dẫn sáu mươi từ ấy để tiến hành hoạt động quân sự tại ít nhất hai mươi hai quốc gia, nhằm vào cả những tổ chức chưa hề ra đời khi nghị quyết được soạn thảo.
Kết quả bỏ phiếu: Thượng viện 98–0. Hạ viện 420–1.
Người duy nhất bỏ phiếu chống là bà Barbara Lee, nghị sĩ bang California. Bà lên phát biểu, giọng run, và nói đại ý: hãy chắc chắn rằng trong cơn giận này, chúng ta không trở thành chính thứ mà chúng ta đang lên án.
Bà bị dọa giết suốt nhiều tháng và phải có bảo vệ. Hai mươi năm sau, gần như mọi phân tích nghiêm túc về AUMF đều thừa nhận là bà đã đúng.
Tôi nghĩ đây là con số đắt nhất cho một bài luận về dân chủ: 420 trên 1. Không phải vì 420 người kia ngu ngốc, họ là những chính trị gia dày dạn, mà chỉ bởi vì một tập thể đang sợ hãi, đang nóng lòng muốn trả đũa thì gần như không có khả năng lắng nghe. Trong một xã hội vừa bị đánh vào mặt, hành động luôn có vẻ đúng hơn thận trọng, và người kêu gọi thận trọng trông giống kẻ phản bội hơn là người sáng suốt.
Bốn mươi lăm ngày (26/10/2001)
Đạo luật USA PATRIOT dài 342 trang, mở rộng quyền theo dõi, nghe lén, khám xét và thu thập dữ liệu về công dân ở mức chưa từng có trong lịch sử Mỹ - được thông qua chỉ 45 ngày sau vụ tấn công.
Thượng viện: 98–1 (người chống duy nhất là Russ Feingold). Hạ viện: 357–66.
Nhiều nghị sĩ về sau thừa nhận công khai rằng họ chưa kịp đọc hết văn bản trước khi bỏ phiếu. Bản dự thảo cuối cùng được đưa ra ngay trước giờ biểu quyết.
Một đạo luật 342 trang, được viết trong sáu tuần, thay đổi vĩnh viễn quan hệ giữa nhà nước Mỹ và công dân của nó.
Bảy trăm tám mươi người, hai mươi ba năm không xử lý (từ 1/2002)
Nhà tù Guantanamo mở cửa ngày 11/1/2002 như một biện pháp tạm thời. Tổng cộng khoảng 780 người từng bị giam ở đó. Phần lớn chưa bao giờ bị buộc tội gì; nhiều người bị bắt do các thủ lĩnh địa phương bán lại để lấy tiền thưởng.
Đến nay nhà tù ấy vẫn chưa đóng cửa. Ba đời tổng thống hứa đóng nó và không một ai làm được.
Nhưng con số làm tôi sững người nhất trong nhóm này là con số về công lý:
Khalid Sheikh Mohammed - kẻ chủ mưu chính của vụ 11/9, người trực tiếp lập kế hoạch - bị bắt ngày 1/3/2003 tại Pakistan.
Đến nay, hơn hai mươi ba năm sau, chưa có phiên tòa xét xử nào kết thúc. Chưa có bản án nào dành cho ông ta.
Vì sao? Vì trong tháng 3/2003, ông ta bị tra tấn bằng phương pháp trấn nước 183 lần trong một tháng (Abu Zubaydah, một nghi phạm khác, bị 83 lần trong tháng 8/2002). Chính vì thế, mọi lời khai thu được trở nên vô giá trị trước tòa, và toàn bộ tiến trình tố tụng sa lầy trong hai thập kỷ tranh cãi pháp lý về chứng cứ bị nhiễm độc.
Kẻ giết ba ngàn người vẫn chưa bị kết án - không phải vì thiếu bằng chứng, mà vì chính bên bắt được hắn đã tự phá hỏng vụ án của mình.
Nếu cần một luận điểm chống tra tấn mà chưa phải viện tới đạo đức, thì đây đã là một luận điểm đủ mạnh: tra tấn không chỉ sai trái, nó còn không hiệu quả và làm hỏng cả những phương pháp vốn có hiệu quả.
Báo cáo dài 6.700 trang của Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ về chương trình giam giữ và thẩm vấn của CIA - công bố phần tóm tắt 525 trang vào tháng 12/2014 - kết luận rằng chương trình tra tấn không mang lại thông tin tình báo nào có giá trị mà không thể thu được bằng phương pháp khác, rằng CIA đã liên tục báo cáo sai lệch với Nhà Trắng và Quốc hội, và rằng ít nhất 26 trong số 119 người bị CIA giam giữ là bị giam nhầm.
Bản báo cáo đầy đủ 6.700 trang đến nay vẫn chưa được giải mật. Thực sự khó tin.
Đơn giản là không có gì cả (2003)
Số vũ khí hủy diệt hàng loạt tìm thấy ở Iraq: không.
Ngày 5/2/2003, Ngoại trưởng Colin Powell - người được tin cậy nhất trong chính quyền Bush - ngồi trước Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, giơ lên một lọ bột trắng nhỏ, và trình bày bằng chứng về chương trình vũ khí sinh học của Iraq. Nguồn tin chính của bài trình bày ấy là một người tị nạn Iraq mang mật danh “Curveball”, mà cơ quan tình báo Đức đã cảnh báo là không đáng tin cậy.
Ngày 20/3/2003, Mỹ tấn công Iraq.
Tháng 9/2004, Nhóm Khảo sát Iraq - do chính Mỹ lập ra - kết luận: Iraq không có kho vũ khí hủy diệt hàng loạt nào cả, và các chương trình liên quan đã chấm dứt từ những năm 1990.
Powell sau này gọi bài phát biểu ấy là “một vết nhơ” trong sự nghiệp của ông, và nói rằng nó sẽ theo ông xuống mồ.
Nhưng con số đáng sợ hãi nhất của giai đoạn này không nằm ở Iraq. Nó nằm trong đầu người dân Mỹ: theo khảo sát của Washington Post vào tháng 8–9/2003, khoảng bảy mươi phần trăm người Mỹ tin rằng Saddam Hussein có dính líu trực tiếp đến vụ ngày 11/9.
Không có bất kỳ bằng chứng nào cho điều đó. Chính Ủy ban 11/9 sau này kết luận rõ ràng rằng không tồn tại quan hệ hợp tác nào giữa Iraq và al-Qaeda trong vụ tấn công. Chính quyền Bush chưa bao giờ nói thẳng điều đó - họ chỉ liên tục nhắc hai cái tên trong cùng một câu, và để đầu óc người nghe tự ghép nối chúng lại.
Đó là bài học đắt nhất về việc một quốc gia đang sợ hãi thì sẵn sàng tin vào những gì. Không cần nói dối trắng trợn. Chỉ cần đặt hai sự thật cạnh nhau đủ nhiều lần.
Bốn trăm nghìn người thất nghiệp và có súng (5/2003)
Đây là sai lầm mà tôi cho là ít được quan tâm, nhưng có hậu quả dài nhất.
Tháng 5/2003, Cơ quan Lâm thời Liên quân do Mỹ dựng lên ở Iraq ban hành hai mệnh lệnh đầu tiên. Mệnh lệnh số 1 loại bỏ toàn bộ đảng viên đảng Ba'ath khỏi bộ máy nhà nước - tức là gạt sạch tầng lớp công chức, giáo viên, kỹ sư, bác sĩ có kinh nghiệm, vì ở Iraq muốn giữ chức phải vào đảng.
Mệnh lệnh số 2 giải tán quân đội Iraq: khoảng 385.000 đến 400.000 người lính, cùng lực lượng an ninh và cảnh sát, bị cho về nhà trong một ngày. Không lương. Không lương hưu. Nhưng phần lớn vẫn giữ vũ khí và biết cách sử dụng.
Bốn trăm ngàn người đàn ông được huấn luyện quân sự, bị làm cho nhục nhã, mất kế sinh nhai, và có sẵn súng.
Từ cái hố đó mọc lên al-Qaeda ở Iraq. Từ al-Qaeda ở Iraq mọc lên Nhà nước Hồi giáo IS - tổ chức mà tới năm 2014 đã chiếm được một vùng lãnh thổ rộng bằng nước Anh, và liên quân sau đó phải mất thêm nhiều năm cùng hàng chục nghìn sinh mạng nữa để đánh bại.
Một mệnh lệnh hành chính vài trang giấy. Đó là toàn bộ khoảng cách giữa “chiếm đóng” và “nội chiến”.
Số dân thường Iraq chết vì bạo lực từ 2003: tổ chức Iraq Body Count ghi nhận được khoảng 186.000 đến 210.000 trường hợp có tài liệu; các ước tính dịch tễ học khác đưa ra con số cao hơn nhiều lần, và tôi cũng tin vậy.
Tấm ảnh (4/2004)
Tháng 4/2004, ảnh chụp trong nhà tù Abu Ghraib ở Iraq được công bố: tù nhân trần truồng bị xếp chồng lên nhau, bị dắt bằng dây xích, bị dọa bằng chó, người lính Mỹ đứng cạnh giơ ngón tay cái lên cười.

Không có con số nào ở đây. Nhưng có một cơ chế đáng nói: những bức ảnh ấy đã trở thành công cụ tuyển quân hiệu quả nhất mà các tổ chức thánh chiến từng có. Không tuyên truyền viên nào của al-Qaeda làm nổi việc mà mấy tấm ảnh ấy làm được, nó quá ư là hiệu quả. Tôi nghĩ đây là chỗ khép lại một vòng lặp: 11/9 xảy ra được một phần vì hình ảnh nước Mỹ trong mắt một nhóm người; và phản ứng với 11/9 đã tạo ra hình ảnh còn tệ hơn nhiều, tạo nên một nhóm người lớn hơn nhiều.
Ba mươi ngàn (tính đến những năm 2020)
Đây là con số làm tôi lạnh người nhất trong toàn bộ nhóm này.
- Số lính Mỹ chết trong các chiến dịch quân sự hậu 11/9: khoảng 7.000 người (khoảng 2.400 ở Afghanistan, khoảng 4.400 ở Iraq, cộng số còn lại). Thêm khoảng 8.000 nhân viên nhà thầu quân sự Mỹ.
- Số cựu binh và quân nhân hậu 11/9 tự sát chứ không phải chết trực tiếp khi chiến đấu, theo ước tính của Costs of War công bố năm 2021: hơn 30.000 người.
Gấp hơn bốn lần.
Cuộc chiến này đã giết nhiều lính Mỹ ở trong nước, sau khi họ về nhà, hơn là trên chiến trường. Con số đó không xuất hiện trong bất kỳ bài diễn văn tưởng niệm nào, vì nó không vừa vặn với bất kỳ câu chuyện anh hùng trong bộ phim nào cả.
Mười một ngày (8/2021)
Tháng 8/2021, sau hai mươi năm và khoảng 2.300 tỷ đô riêng cho Afghanistan, quân đội chính phủ Afghanistan - được Mỹ huấn luyện, trang bị, trả lương suốt hai thập kỷ, trên giấy tờ có hơn 300.000 quân - sụp đổ hoàn toàn trong khoảng mười một ngày. Kabul thất thủ ngày 15/8.
Ngày 26/8, một vụ đánh bom liều chết ở cổng Abbey sân bay Kabul giết 13 quân nhân Mỹ và khoảng 170 người Afghanistan đang chen nhau tìm đường ra. Chuyến bay Mỹ cuối cùng rời Kabul ngày 30/8/2021.
Taliban trở lại nắm quyền - chính cái lực lượng đang cầm quyền ở đó vào ngày 11/9/2001.
Hai mươi năm. Tám nghìn tỷ đô. Gần một triệu người chết. Và tấm bản đồ quay về đúng chỗ nơi nó bắt đầu.
Còn một chi tiết nữa: Osama bin Laden không bị tìm thấy ở Afghanistan. Ông ta bị tiêu diệt ngày 2/5/2011 - gần mười năm sau vụ tấn công - trong một căn nhà ở Abbottabad, Pakistan, cách học viện quân sự lớn nhất nước này chưa tới hai cây số. Pakistan là đồng minh của Hoa Kỳ, đã nhận hàng chục tỷ đô viện trợ của họ trong suốt thời gian đó.
Nghĩa là: mục tiêu ban đầu của cuộc chiến hai mươi năm ở Afghanistan, cuối cùng được giải quyết bằng một chiến dịch đặc nhiệm kéo dài bốn mươi phút, ở một quốc gia đồng minh khác.
Câu hỏi tôi tự đặt ra
Nếu ngày 12/9/2001 có ai đó nói trước được toàn bộ những con số này - tám nghìn tỷ, một triệu người chết, ba mươi nghìn cựu binh tự sát, Taliban trở lại - thì có thay đổi được gì không?
Tôi nghĩ là không.
Không phải vì người Mỹ ngu, hay vì các nghị sĩ hèn. Mà vì một xã hội vừa bị đánh thẳng vào giữa mặt thì không có cơ chế để lắng nghe. Nỗi sợ tập thể không làm người ta ngu đi - nó làm người ta quyết đoán một cách sai lầm. Nó khiến hành động luôn có vẻ đúng hơn thận trọng, khiến quy mô luôn có vẻ đúng hơn sự chính xác, khiến “làm gì đó ngay” luôn thắng “hiểu cho đúng đã”.
Barbara Lee đã đứng đó và nói ra điều đúng, trước 420 người. Tất nhiên là bà bị dọa giết.
Đó, với tôi, là bài học chính trị lớn nhất của 11/9 - lớn hơn cả bài học về khủng bố. Không phải “phải cảnh giác hơn”. Mà là: thể chế nào cũng cần một cơ chế để tự phanh mình lại trong ba mươi ngày đầu sau một cú sốc, vì đó chính là ba mươi ngày mà nó sẽ ra những quyết định tồi tệ nhất, với sự đồng thuận cao nhất.
5. Thứ đã đổi mà ta không còn nhận ra là nó đã đổi
Những thay đổi lớn nhất không phải những thứ có tượng đài. Chúng là những thứ đã chìm sâu vào bình thường đến mức ta quên rằng chúng từng không tồn tại.
Phải cởi giày
Trước tháng 12/2001, cởi giày chưa bao giờ là một thủ tục an ninh quen thuộc ở sân bay. Rồi ngày 22/12/2001, một kẻ tên Richard Reid lên chuyến bay từ Paris đi Miami với thuốc nổ giấu trong đế giày; hắn thất bại vì không châm được ngòi nổ và bị hành khách khống chế.
Từ đó, hàng tỷ lượt người trên khắp hành tinh - kể cả bạn, ở Nội Bài hay Tân Sơn Nhất - phải cởi giày ra để kiểm tra nan ninh, vì một người ở xa tít, một lần, hai mươi lăm năm trước.
Quy định 100ml chất lỏng thì đến từ một âm mưu bị phá ở Anh năm 2006 -thậm chí âm mưu đó chưa bao giờ được thực hiện.
Cơ quan An ninh Vận tải (TSA) được lập tháng 11/2001, nay có khoảng 50.000–60.000 nhân viên và ngân sách trên dưới 10 tỷ đô mỗi năm. Riêng nước Mỹ đã chi hơn một trăm tỷ đô cho an ninh hàng không kể từ 2001.
Rồi nó có hiệu quả không?
Năm 2015, Tổng Thanh tra Bộ An ninh Nội địa cho đội kiểm tra đóng giả hành khách, mang vũ khí và thiết bị nổ mô phỏng qua các cửa kiểm tra của TSA. Kết quả: lọt 67 trên 70 lần. Tỷ lệ chặn thất bại 95%.
Vậy cái gì thực sự đã làm những chiếc máy bay trở nên an toàn hơn?
Gần như chắc chắn là hai thứ rẻ tiền. Thứ nhất: gia cố cửa buồng lái - một thay đổi kỹ thuật tốn vài trăm triệu đô cho toàn ngành hàng không, chấm dứt hẳn khả năng chiếm quyền điều khiển bằng dao rọc giấy. Thứ hai, và quan trọng hơn: hành khách từ nay sẽ chống trả.
Chuyến bay 93 đã chứng minh điều trên ngay trong buổi sáng hôm ấy. Trước 11/9, quy trình chuẩn khi bị không tặc là phải ngồi yên, hợp tác và chờ đàm phán từ dưới mặt đất, bởi kịch bản quen thuộc khi đó là không tặc muốn được đưa tới một nơi nào đó chứ không định biến máy bay thành vũ khí tự sát. Bốn mươi hành khách và thành viên phi hành đoàn của UA93 là những người đầu tiên hiểu quy tắc ấy đã hết hiệu lực, vì một người đã gọi điện về nhà và biết chuyện gì đang xảy ra tại New York.
Chuyến bay ấy cất cánh muộn 42 phút. Chính sự chậm trễ tầm thường đó đã cho họ khoảng thời gian để biết được chuyện gì đang diễn ra. Nếu chiếc máy bay đó cất cánh đúng giờ, họ sẽ không hề hay biết gì, và Điện Capitol hoặc Nhà Trắng - mục tiêu nhiều khả năng nhất - có thể đã bị đâm rồi.
Thời đại không tặc kiểu cũ đã chết vào lúc 10 giờ 03 phút sáng ngày 11/9/2001. Nó chết trên một cánh đồng ở Pennsylvania, không phải trong bất cứ một phòng họp nào.
Toàn bộ phần còn lại - cởi giày, đổ chai nước, tháo dây lưng, xếp hàng bốn mươi phút - phần lớn là cái mà giới chuyên gia an ninh gọi thẳng bằng một cái tên do Bruce Schneier đặt: security theater, sân khấu an ninh. Chúng ta đang diễn cho nhau xem rằng mình có vẻ đang an toàn.
Nhưng đây là chỗ tôi muốn có sự công bằng: sân khấu ấy không hoàn toàn vô dụng, chỉ là nó phục vụ một mục đích khác với điều được tuyên bố. Nó không trực tiếp bắt giữ những tên khủng bố, nhưng nó có thể phục hồi niềm tin để người ta dám lên máy bay trở lại và để nền kinh tế toàn cầu không ngừng vận hành. Vì vậy, câu hỏi thật sự không phải “biện pháp này có bắt được khủng bố hay không”, mà phải là “một xã hội nên trả giá bao nhiêu, và chấp nhận đánh đổi điều gì, để mua lại cảm giác an toàn cho chính mình”. Một trăm tỷ đô cùng vài tỷ giờ xếp hàng có phải là cái giá hợp lý hay không thì tôi không biết, nhưng ít nhất chúng ta cũng có thể hiểu được phần nào chức năng của những biện pháp anh ninh kiểu này.
1.595
Nhà tâm lý học Gerd Gigerenzer từng đặt câu hỏi: sau 11/9, người Mỹ sợ bay, nên họ chuyển sang lái xe đường dài. Mà lái xe thì nguy hiểm hơn bay rất nhiều lần trên mỗi cây số. Vậy nỗi sợ ấy đã giết chết bao nhiêu người?
Ông so sánh số vụ tai nạn giao thông trong mười hai tháng sau 11/9 với xu hướng nhiều năm trước đó, và ước tính có thêm khoảng 1.595 người Mỹ chết trên đường vì đã chọn ô tô thay vì máy bay.
Nhiều hơn tổng số người chết trên cả bốn chuyến bay ngày 11/9 (246 người) gấp sáu lần. Nhiều hơn số người chết ở Lầu Năm Góc gấp gần chín lần.
Nỗi sợ hãi thường giết nhiều người hơn thứ mà người ta sợ. Và không ai trong số 1.595 người đó xuất hiện trong bất kỳ danh sách nạn nhân nào, vì cái chết của họ được ghi nhận là tai nạn giao thông thông thường.
Nếu bài viết này có một câu để ghi nhớ, tôi muốn nó là câu đó.
28 và 481
Năm 2000, FBI ghi nhận 28 vụ phạm tội thù ghét nhắm vào người Hồi giáo trên toàn nước Mỹ.
Năm 2001: 481 vụ. Tăng khoảng mười bảy lần.
Và trong nhiều năm sau đó, con số ấy không trở lại mức cũ.
Nạn nhân đầu tiên của làn sóng ấy chết ngày 15/9/2001 - bốn ngày sau vụ tấn công. Ông tên Balbir Singh Sodhi, chủ một cây xăng ở Mesa, bang Arizona, bị bắn chết khi đang trồng hoa trước cửa hàng. Ông là người Sikh, không phải người Hồi giáo. Đạo Sikh và Hồi giáo là hai tôn giáo khác nhau, ra đời cách nhau gần một nghìn năm. Kẻ giết ông không phân biệt được. Và hắn cũng không cần phân biệt - đó chính là bản chất của thứ nỗi sợ này. Nó không tìm kẻ thù; nó tìm dấu hiệu của kẻ thù. Một chiếc khăn xếp là đủ.
Không một trường hợp nào
Ngày 26/10/2001, Đạo luật PATRIOT ra đời với Điều 215, cho phép thu thập “mọi thứ hữu hình” liên quan đến điều tra khủng bố. Trên nền điều khoản đó, Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA) xây dựng chương trình thu thập siêu dữ liệu cuộc gọi của gần như toàn bộ dân số Mỹ -ai gọi cho ai, lúc nào, bao lâu, nói cái gì.
Không ai biết chuyện đó cho tới tháng 6/2013, khi Edward Snowden công bố tài liệu. Đây cũng là một sự kiện đáng để nhắc tới.
Năm 2014, Ủy ban Giám sát Quyền riêng tư và Tự do Dân sự - một cơ quan của chính phủ Mỹ, không phải tổ chức đối lập nào - công bố báo cáo đánh giá chương trình này. Kết luận, gần như nguyên văn: họ không tìm thấy một trường hợp nào mà chương trình thu thập siêu dữ liệu hàng loạt tạo ra khác biệt cụ thể đối với kết quả của một cuộc điều tra chống khủng bố.
Không có bất cứ một trường hợp nào.
Chúng ta đã đánh đổi quyền riêng tư của gần như cả hành tinh - vì hạ tầng và tiêu chuẩn giám sát ấy lan ra khắp thế giới, và trở thành khuôn mẫu cho hàng chục quốc gia khác - để đổi lấy một con số không.
Và đây là điểm quan trọng: bộ máy ấy vẫn không được tháo dỡ. Nó được điều chỉnh, đổi tên, chuyển sang các cơ sở pháp lý khác. Nguyên tắc chung mà 11/9 thiết lập vẫn còn nguyên: thu thập trước, tìm lý do sau. Đó là thứ nguyên tắc mà mọi công ty công nghệ lớn hiện nay cũng vận hành, dù vì lý do thương mại chứ không phải an ninh. Tôi không nghĩ đó là trùng hợp. 11/9 đã bình thường hóa ý tưởng rằng dữ liệu về mọi người nên được giữ lại, phòng khi cần thiết.
36%
Tòa nhà số 7 của WTC - 47 tầng, không bị máy bay đâm - sụp đổ lúc 5 giờ 20 chiều hôm ấy, sau bảy tiếng cháy không được chữa vì hệ thống nước chữa cháy của khu vực đã hỏng. Đây là tòa nhà cao tầng khung thép đầu tiên trên thế giới sụp đổ chủ yếu do cháy. NIST mất bảy năm mới công bố báo cáo giải thích (2008) - và chính sự chậm trễ ấy lại càng chứa đựng nhiều nghi ngờ.
Cộng thêm một chuyện: chính phủ Mỹ đã nói dối thật, về vũ khí ở Iraq, về không khí ở Ground Zero, về tra tấn ở các nhà tù bí mật. Ba lời nói dối ấy đã được chứng minh.
Kết quả: một cuộc khảo sát của Scripps Howard và Đại học Ohio năm 2006 cho thấy khoảng 36% người Mỹ tin rằng “rất có thể” hoặc “có phần có thể” các quan chức liên bang đã hỗ trợ vụ tấn công hoặc cố tình không hành động.
Hơn một phần ba dân số của một quốc gia nghi ngờ chính phủ của mình đã đồng lõa giết ba nghìn công dân.
Bộ phim Loose Change (2005) là một trong những video lan truyền đầu tiên của internet, hàng triệu lượt xem khi YouTube còn chưa tròn một tuổi. Nhìn lại, tôi cho rằng đó là tổ tiên trực tiếp của toàn bộ hệ sinh thái tin giả của hiện đại - mô hình “tự nghiên cứu đi”, “họ không muốn bạn biết điều này”, cắt ghép các chi tiết kỹ thuật thật thành một câu chuyện sai bét nhưng kích thích người xem vô cùng.
Và đây là chỗ tôi muốn nói một điều mà tôi thấy quan trọng: cái giá của một lời nói dối chính đáng không phải là ở lời nói dối ấy. Cái giá là toàn bộ những sự thật sau đó không còn ai dám tin nữa.
EPA nói dối về không khí vì muốn cứu lấy nền kinh tế Hoa Kỳ. Chính quyền nói sai sự thật về Iraq vì tin rằng mình đang đúng về cái đích đến. Mỗi lời nói dối đều có lý do nghe được. Nhưng cộng lại, chúng phá hủy thứ tài sản mà không đồng tiền nào mua lại được: khả năng của một xã hội tin tưởng vào chính thiết chế của mình khi nó dám nói sự thật.
Chúng ta đang sống trong thế giới hậu quả của việc đó, mỗi ngày, trên mọi mạng xã hội, ở mọi quốc gia. Và tôi nghĩ nó bắt đầu ở những việc như thế này.
Điều mà người Việt chúng ta nên nhìn ra
Bây giờ tôi quay lại chuyện tôi để dở ở phần 1.
Hiệp định Thương mại Song phương Việt – Mỹ có hiệu lực ngày 10/12/2001.
Trung Quốc chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới ngày 11/12/2001 - đúng ngày hôm sau, và đúng ba tháng sau vụ tấn công.
Hai sự kiện định hình toàn bộ nền kinh tế châu Á trong hai thập kỷ tiếp theo, diễn ra cách nhau hai mươi bốn tiếng, trong lúc toàn bộ sự chú ý, ngân sách, và trí tuệ chiến lược của siêu cường duy nhất trên thế giới đang bị hút vào Kabul. Trong hai mươi năm sau đó, nước Mỹ dồn tám nghìn tỷ đô, hàng triệu lượt quân, và gần như toàn bộ băng thông chính trị của mình vào Trung Đông và Nam Á. Chiến lược “xoay trục sang châu Á” mãi đến năm 2011 mới được nói ra thành lời - tức mười năm sau.
Mười năm đó, và cả mười năm tiếp theo, là quãng thời gian mà châu Á lớn lên tương đối yên ổn. Trung Quốc từ một nền kinh tế cỡ nước Ý trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới. Việt Nam gia nhập WTO năm 2007, đón làn sóng FDI, và trở thành mắt xích trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tôi không nói 11/9 là may mắn cho ai cả. Tôi cũng không nói rằng nếu không có 11/9 thì mọi thứ đã khác hẳn , lịch sử không cho ai chạy lại thí nghiệm bao giờ.
Tôi chỉ nói rằng lịch sử phân bổ hậu quả một cách không công bằng đến mức khó chịu: cùng một buổi sáng ấy đã lấy đi ba ngàn mạng người ở một thành phố, châm ngòi cho gần một triệu cái chết ở một khu vực, và đồng thời mở ra một khoảng thở kéo dài hai thập kỷ cho một khu vực khác ở nửa kia địa cầu, nơi có cái lớp 8 của tôi, và cô giáo Hóa đang kể chuyện.
Đó là điều tôi nghĩ người Việt Nam nên nhìn ra khi nhắc tới ngày này, không phải để cảm thấy mình may mắn, mà để hiểu rằng chúng ta chưa bao giờ đứng ngoài cuộc. Chúng ta chỉ đứng ở một vị trí khác trên cùng một mặt phẳng - và mặt phẳng ấy nghiêng đi lúc 19 giờ 46, giờ Việt Nam.
Những gì còn lại ở nơi đó
Vài con số cuối, dịu hơn:
1.776. Chiều cao tính bằng foot của tòa One World Trade Center, khánh thành năm 2014 trên chính khu đất ấy. Con số được chọn cố ý: năm ra đời bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ.
2.983. Số cái tên khắc quanh hai hồ nước của đài tưởng niệm - nhiều hơn 2.977, vì bao gồm cả sáu nạn nhân vụ đánh bom WTC năm 1993. Ký ức được nối lại, chứ không cắt rời.
Gần 1.200. Số nguyện vọng mà các gia đình gửi tới ban thiết kế, xin đặt tên người thân của họ cạnh tên một người cụ thể khác - đồng nghiệp, bạn thân, người đã ở cùng họ trong những phút cuối. Ban thiết kế gọi nguyên tắc này là meaningful adjacencies, sự kề cạnh có ý nghĩa, và họ đã đáp ứng gần như toàn bộ. Nghĩa là thứ tự các cái tên trên vành đồng đó không phải bảng chữ cái. Nó là một bản đồ các mối quan hệ có thật.
Một cái cây. Trong đống đổ nát, người ta tìm thấy gốc một cây lê cảnh còn khoảng hai mét rưỡi thân cháy đen, rễ gãy. Nó được đưa về một vườn ươm ở Bronx, chăm sóc suốt chín năm, rồi trồng lại ở đài tưởng niệm năm 2010. Nó vẫn sống, và mỗi mùa xuân nó vẫn ra hoa. Người ta gọi nó là Survivor Tree.
Tám mươi tám ngọn đèn. Mỗi năm vào đêm 11/9, người ta bật 88 đèn chiếu công suất lớn xếp thành hai khối vuông, tạo ra hai cột sáng vươn lên trời, nhìn thấy được từ cách xa gần trăm cây số. Đó là tác phẩm Tribute in Light.
Và có một chi tiết mà tôi thấy đẹp một cách buồn bã: hai cột sáng ấy nằm đúng trên đường di cư của những con chim. Mỗi năm, hàng nghìn con chim bị hút vào cột sáng và bay vòng trong đó cho tới kiệt sức. Nên bây giờ, cứ khi nào các nhà điểu học đếm thấy quá một nghìn con chim mắc kẹt, người ta lại phải tắt đèn hai mươi phút để đàn chim thoát ra, rồi mới bật đèn trở lại.
Một đài tưởng niệm phải tự tắt đi để không giết thêm sinh vật nào nữa. Tôi không nghĩ ra được ẩn dụ nào đúng hơn cho toàn bộ hai mươi lăm năm này.
Vĩ thanh
Hôm nay, bất kỳ ai sinh sau tháng 9/2001 đều đã ngoài hai mươi tư tuổi. Ở Mỹ, hơn một phần tư dân số không có ký ức nào về ngày ấy. Với họ, 11/9 là một chương trong sách sử, ngang hàng với Trân Châu Cảng - một chuyện có thật nhưng không có mùi, không có tiếng động.
Ký ức trong tôi vẫn vẹn nguyên không khí của căn phòng học năm nào. Cô giáo dạy Hóa của tôi từng đứng đó, không giảng những công thức khô khan, mà dùng những câu chuyện bao la để tưới tắm cho trí óc non nớt của tôi về một thế giới đầy màu sắc. Hôm nay, gói trọn tất cả sự tôn kính của mình, tôi xin được viết tên cô ở đây như một nốt trầm biết ơn: cô Hương.
Và tôi nghĩ điều mà cô truyền cho lũ trẻ mười ba tuổi hôm ấy, dù cô không có ý định sẽ làm như vậy, cũng không phải là cũng cấp thông tin gì lớn lao. Cô không biết gì nhiều hơn tờ báo sáng hôm ấy. Thứ cô truyền đi là một cảm giác: rằng thế giới này mỏng manh hơn ta vẫn tưởng, và có những ngày nó sẽ rách đi.
Hai mươi lăm năm sau, tôi biết thêm được điều mà cô chưa thể biết vào lúc ấy - rằng vết rách ngày hôm đó chưa phải là phần tệ nhất.
Phần tệ nhất là những gì con người làm khi cố vá nó lại trong lúc họ đang sợ hãi. Ba ngàn người chết trong một buổi sáng. Sáu ngàn người nữa chết vì thứ bụi bặm mà chính phủ bảo họ là an toàn. Gần một triệu người chết trong hai mươi năm sau đó ở những đất nước mà phần lớn nạn nhân ngày 11/9 có lẽ chưa từng được nghe tên. Ba mươi ngàn người lính tự kết liễu sau khi trở về nhà. Một ngàn năm trăm chín mươi lăm người chết trên đường cao tốc chỉ vì họ sợ phải bay.
Và một ngàn một trăm gia đình, sau hai mươi lăm năm, vẫn đang chờ điện thoại từ một phòng thí nghiệm dưới lòng đất Manhattan.
Nếu có một bài học nào đáng ghi nhớ, tôi nghĩ nó nằm ở đây:
Thảm họa thì hiếm, nhưng phản ứng trước thảm họa luôn xảy ra - và phản ứng mới là điều chúng ta có thể lựa chọn.
Đó là câu tôi muốn nói lại với đứa bé lớp 8 đang ngồi nghe cô giáo Hóa kể chuyện năm đó, nếu tôi có thể quay lại được. Có thể nó sẽ không hiểu. Mười ba tuổi thì chưa hiểu được. Nhưng bây giờ tôi hiểu, và tôi viết nó ra đây, đúng vào dịp tháng 9.
Nguồn và ghi chú
Nguồn gốc - báo cáo điều tra chính thức:
| Chủ đề | Nguồn |
|---|---|
| Diễn biến, danh sách chuyến bay, 19 không tặc, chi phí vụ tấn công (400.000–500.000 USD) | Báo cáo Ủy ban Quốc gia về các cuộc tấn công khủng bố nhằm vào Hoa Kỳ (The 9/11 Commission Report, 2004) - bản đầy đủ miễn phí tại govinfo.gov và 9-11commission.gov |
| Số người trong tòa tháp (~17.400), tỷ lệ thoát (~87%), 1.355 người ở/trên điểm va chạm Tháp Bắc, 18 người thoát qua Stairwell A, cơ chế sụp đổ | NIST NCSTAR 1 - Báo cáo điều tra thảm họa WTC của Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Mỹ (2005), và NIST NCSTAR 1A về Tòa nhà số 7 (2008). nist.gov/world-trade-center-investigation |
| Chương trình giam giữ và thẩm vấn của CIA; 183 lần trấn nước; 119 người bị giam, ít nhất 26 người bị giam nhầm | Nghiên cứu của Ủy ban Tình báo Thượng viện Hoa Kỳ về Chương trình Giam giữ và Thẩm vấn của CIA - bản tóm tắt 525 trang công bố 9/12/2014. intelligence.senate.gov |
| Tuyên bố “không khí an toàn để hít thở” và sự can thiệp của Nhà Trắng | Báo cáo Tổng Thanh tra EPA số 2003-P-00012 (8/2003): EPA's Response to the World Trade Center Collapse |
| Chương trình thu thập siêu dữ liệu Điều 215 không tạo ra khác biệt cụ thể nào | Privacy and Civil Liberties Oversight Board, báo cáo về Điều 215, công bố 23/1/2014. pclob.gov |
| Vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Iraq | Báo cáo Duelfer / Iraq Survey Group (9/2004) |
| TSA để lọt 67/70 lần trong thử nghiệm | Tổng Thanh tra Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ (DHS OIG), thử nghiệm đội đỏ 2015 (kết quả được công bố qua ABC News và điều trần Quốc hội) |
Nguồn về nạn nhân, sức khỏe và bồi thường:
| Chủ đề | Nguồn |
|---|---|
| 2.977 nạn nhân, phân bổ theo địa điểm, 2.983 tên trên đài tưởng niệm, nguyên tắc meaningful adjacencies, Survivor Tree | 9/11 Memorial & Museum - 911memorial.org |
| Nhận dạng nạn nhân, số hài cốt chưa xác định (~1.100 người, ~40%), kho lưu giữ dưới đài tưởng niệm | Phòng Giám định Pháp y Thành phố New York (NYC OCME) - thông cáo định kỳ, nyc.gov/site/ocme |
| Trên 130.000 người ghi danh, trên 25.000 ca ung thư được xác nhận, số tử vong vì bệnh liên quan | World Trade Center Health Program, CDC/NIOSH - cdc.gov/wtc (có công bố dữ liệu chương trình theo quý) |
| Số lính cứu hỏa FDNY chết vì bệnh liên quan so với 343 người hy sinh trong ngày | FDNY và Quỹ UFA/FealGood Foundation - thông báo hằng năm vào dịp 11/9 |
| Quỹ bồi thường: ~7 tỷ USD cho 5.560 hồ sơ, mức trung bình ~2,08 triệu USD | September 11th Victim Compensation Fund - vcf.gov, và Kenneth Feinberg, What Is Life Worth? (2005) |
| Điều trần 6/2019, Luis Alvarez, đạo luật cấp vốn vĩnh viễn đến 2092 | Biên bản điều trần Tiểu ban Tư pháp Hạ viện, 11/6/2019; Never Forget the Heroes Act, ký 29/7/2019 |
| James Zadroga và đạo luật mang tên ông | James Zadroga 9/11 Health and Compensation Act of 2010 |
Nguồn về chiến tranh và chi phí:
| Chủ đề | Nguồn |
|---|---|
| 8.000 tỷ USD tổng chi phí; ~940.000 người chết trực tiếp; 4,5–4,7 triệu người chết kể cả gián tiếp; hơn 30.000 cựu binh tự sát; 2.300 tỷ USD riêng Afghanistan | Costs of War Project, Watson Institute, Đại học Brown - watson.brown.edu/costsofwar. Lưu ý: đây là ước tính học thuật, không phải số liệu chính phủ. |
| AUMF 2001 dài ~60 từ, bỏ phiếu 98–0 và 420–1, được viện dẫn ở ít nhất 22 quốc gia | Văn bản luật Public Law 107-40; thống kê phạm vi áp dụng từ Brennan Center for Justice và Costs of War |
| Patriot Act: 342 trang, thông qua sau 45 ngày, Thượng viện 98–1 | Public Law 107-56, ký 26/10/2001 |
| Giải tán quân đội Iraq (~385.000–400.000 người) | Coalition Provisional Authority Order Number 2, 23/5/2003 |
| ~186.000–210.000 dân thường Iraq chết vì bạo lực (có tài liệu) | Iraq Body Count - iraqbodycount.org |
| 70% người Mỹ tin Saddam dính líu 11/9 | Khảo sát Washington Post, 8–9/2003 |
| Guantanamo: ~780 người từng bị giam | New York Times Guantánamo Docket; Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ |
| Rút quân Afghanistan, vụ nổ cổng Abbey (13 quân nhân Mỹ, ~170 người Afghanistan) | Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ; báo cáo điều tra CENTCOM (2021) |
Nguồn về xã hội, tâm lý và hệ quả dài hạn:
| Chủ đề | Nguồn |
|---|---|
| 1.595 người chết thêm vì tai nạn giao thông trong 12 tháng sau 11/9 | Gerd Gigerenzer, “Dread Risk, September 11, and Fatal Traffic Accidents”, Psychological Science (2004); và “Out of the Frying Pan into the Fire”, Risk Analysis (2006) |
| Tội phạm thù ghét nhắm vào người Hồi giáo: 28 vụ (2000) → 481 vụ (2001) | FBI Hate Crime Statistics, báo cáo thường niên - ucr.fbi.gov |
| Vụ sát hại Balbir Singh Sodhi, 15/9/2001, Mesa, Arizona | Hồ sơ tòa án bang Arizona; Sikh Coalition |
| 36% người Mỹ nghi ngờ chính phủ đồng lõa | Khảo sát Scripps Howard / Đại học Ohio, 7/2006 |
| Khái niệm security theater | Bruce Schneier, Beyond Fear (2003) và các bài viết tại schneier.com |
| Đoạn phim duy nhất về cú đâm thứ nhất | Phim tài liệu 9/11 (2002) của Jules Naudet, Gédéon Naudet và James Hanlon |
| Rick Rescorla, Morgan Stanley, ~2.700 người sơ tán | James B. Stewart, Heart of a Soldier (2002); hồ sơ FDNY/Morgan Stanley |
| Cuộc sơ tán đường thủy 500.000 người | Boatlift: An Untold Tale of 9/11 Resilience (2011), Tom Hanks dẫn chuyện; hồ sơ Tuần duyên Hoa Kỳ |
| Chiến dịch Yellow Ribbon, thị trấn Gander | Transport Canada; vở nhạc kịch Come From Away (dựa trên sự kiện có thật) |
| Tribute in Light và việc tắt đèn để cứu chim di cư | New York City Audubon; 9/11 Memorial & Museum |
| Sách về 102 phút cuối trong tòa tháp | Jim Dwyer & Kevin Flynn, 102 Minutes (2005) |
Nguồn bối cảnh Việt Nam:
| Chủ đề | Nguồn |
|---|---|
| Hiệp định Thương mại Song phương Việt – Mỹ, ký 13/7/2000, hiệu lực 10/12/2001 | Bộ Công Thương Việt Nam; Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) |
| Trung Quốc gia nhập WTO ngày 11/12/2001 | Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) - wto.org |
| Chiến lược “xoay trục sang châu Á” (2011) | Hillary Clinton, “America's Pacific Century”, Foreign Policy, 10/2011 |
| Số người dùng internet ở Việt Nam năm 2001 | Tổng cục Thống kê; VNNIC - số liệu phát triển internet Việt Nam |
Bài viết hoàn thành vào tháng 9/2026, nhân hai mươi lăm năm ngày 11/9/2001.
