Lệ Chi Viên: những gì có thể đã xảy ra?
Có những vụ án đi vào ký ức chung bằng một bản hồ sơ dày cộm đến nỗi người đọc như chúng ta hôm nay còn có thể lần được từng bước. Lệ Chi Viên không nằm trong số đó. Câu chuyện về vụ án đã được kể quá nhiều lần, từ sách phổ thông đến giai thoại về Nguyễn Trãi. Vì vậy, người đọc rất dễ tưởng rằng mình đã biết tuốt chuyện gì đã xảy ra trong đêm vua Lê Thái Tông qua đời ở vườn vải bên sông Thiên Đức. Khi quay lại các văn bản cũ, tôi thấy phần sử liệu chắc chắn ít hơn rất nhiều so với câu chuyện mà ta vẫn thường xuyên được nghe.
Điều chắc chắn nhất về cái chết của Lê Thái Tông lại nằm trên một tấm bia đá. Bia Hựu Lăng được dựng trong năm Đại Bảo thứ ba, ghi rằng nhà vua băng hà vào ngày mồng 4 tháng tám năm Nhâm Tuất. Văn bản này gần sự kiện hơn nhiều nguồn khác mà ta thường nhắc. Dù vậy, tấm bia cũng không nói rõ nhà vua mắc bệnh gì, ai ở cạnh ông vào lúc cuối, Nguyễn Thị Lộ đã làm gì, hay triều đình dựa vào đâu để xử tử Nguyễn Trãi và tru di ba họ. [1]
Chỉ riêng chỗ thiếu ấy đã khiến tôi phải đọc chậm lại. Một nhà vua chết, gia đình một công thần khai quốc bị diệt vong, rồi hơn hai mươi năm sau Nguyễn Trãi được phục hồi quan tước. Trong tay chúng ta hiện không có biên bản khám nghiệm, cáo trạng, lời khai, vật chứng hay bản án còn nguyên vẹn. Những gì còn lại là biên niên sử, lời bình của sử thần, vài văn bản truy tặng và các nghiên cứu đời sau tìm cách giải thích một vụ án quá ít hồ sơ. Nhiều nguồn gọi đây là an oan, hầu hết là vậy, riêng tôi thì chúng ta chưa đủ dữ kiện để khẳng định điều đó là đúng.
Tôi không thể dùng phần sử liệu còn lại để chỉ mặt một hung thủ. Việc cần làm trước hết là tách những điều nguồn ghi chép rõ ra khỏi phần suy luận mà các tác giả và nhà nghiên cứu đời sau bổ sung. Sau đó mới xem từng cách giải thích có thể đi xa đến đâu. Triều đình năm 1442 có thể từng nắm giữ lời hỏi cung, báo cáo hay chi tiết mà các sách vở hiện tại không thể nào có được. Chúng ta không biết những tài liệu ấy liệu có tồn tại hay không, và cũng không biết nội dung của chúng. Phần không được kể vẫn chỉ là phần chưa biết, chứ không phải là không có.
Bắt đầu từ những văn bản còn lại
Nguồn được nhắc đến nhiều nhất là Đại Việt sử ký toàn thư. Theo bản dịch Cao Huy Giu, Đào Duy Anh hiệu đính và chú giải, tháng tám năm 1442, Lê Thái Tông về đến vườn Vải ở huyện Gia Định thì “bỗng bị bạo bệnh rồi băng”. Sau đó, sử chép rằng vua thích Nguyễn Thị Lộ, vợ của Thừa chỉ Nguyễn Trãi, vì bà đẹp và giỏi văn chương. Vua gọi bà vào cung làm Lễ nghi học sĩ, ngày đêm hầu bên cạnh.
Đoạn sử tiếp tục nói khi xa giá đến vườn Vải, vua “thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng”. Các quan bí mật đưa linh cữu về kinh; đến mồng 6 mới đưa vào cung phát tang. Sử viết: “Mọi người đều nói là Nguyễn Thị Lộ giết vua.” Ngày 12, Bang Cơ được tôn lên ngôi. Ngày 16, Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bị xử tử, tội đến ba họ. [2]
Trong một đoạn ngắn, Toàn thư đã ghi nhiều việc khác nhau. Sử nói nhà vua mắc bạo bệnh. Sử kể nhà vua đặc biệt để ý đến một nữ quan. Sử sách ghi lời quy kết bằng câu “mọi người đều nói”. Sau đó là bản án và lời bình của sử thần, cho rằng nữ sắc làm hại người, Thái Tông vì yêu Thị Lộ mà chết, Nguyễn Trãi vì lấy Thị Lộ mà cả họ bị diệt vong. Đọc liền mạch, người ta rất dễ hiểu thành một chuỗi nguyên nhân: vua mê vợ của đại thần, ở cùng bà suốt đêm, rồi chết; Thị Lộ giết vua; Nguyễn Trãi bị liên lụy.
Tôi nghĩ cần tách các câu ấy ra trước khi đọc tiếp. “Bỗng bị bạo bệnh” chỉ cho biết cách Toàn thư mô tả tình trạng cuối cùng của nhà vua; sử không ghi chẩn đoán. “Thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ” cho thấy sự gần gũi đặc biệt, song không có câu nào nói rõ hai người có giao hợp hay không. “Mọi người đều nói” cho biết đã có lời quy kết, không cho biết vật chứng hay lời thú nhận. Lời bàn của sử thần giúp ta hiểu cách người biên soạn nhìn nhận vụ án, chứ không thể nào thay cho hồ sơ điều tra.
Đại Việt sử ký toàn thư được biên soạn sau sự kiện. Phần viết về Lê sơ hoàn chỉnh trong thời Lê Thánh Tông; bản Nội các quan bản hiện còn được khắc in năm 1697. Điều này không làm bộ sử trở thành nguồn vô giá trị. Nếu không có Toàn thư, ta sẽ biết ít hơn rất nhiều. Dù vậy, một sự kiện được chép trong chính sử vẫn cần được phân biệt với một chi tiết đã có nguồn đương thời độc lập xác nhận. [3]
Bia Hựu Lăng gần năm 1442 hơn, nhưng rất ngắn. Bia đá xác nhận ngày vua mất, nơi chôn cất và công trạng của ông. Bia không nhắc đến Lệ Chi Viên hay Nguyễn Thị Lộ. Điều này không bác bỏ đoạn chép trong Toàn thư, vì văn bia lăng mộ không có nhiệm vụ ghi lại quá trình điều tra một cái chết. Nó chỉ cho thấy câu chuyện về Nguyễn Thị Lộ không nằm trong văn bản gần sự kiện nhất mà chúng ta còn có.
Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn thường được dùng khi người ta bàn về bệnh tình của nhà vua. Ở mục viết về Trịnh Khả, sách chép rằng khi Thái Tông đi tuần miền Đông và mắc bệnh nguy kịch, Trịnh Khả hầu thuốc men không rời. Chi tiết này cho thấy một truyền thuyết sử học khác: nhà vua được nhìn như người đang lâm bệnh và có người chăm thuốc men. Nhưng Lê Quý Đôn viết vào thế kỷ XVIII, hơn ba trăm năm sau biến cố. Đây không phải lời chứng mới từ năm 1442. Nó không đủ để xác nhận vua Lê Thái Tông đã có bệnh từ trước, cũng không thể được tính như một nguồn độc lập thứ hai bên cạnh Toàn thư. [4]
Khi đọc những nguồn này, tôi ưu tiên văn bản gần sự kiện hơn. Các nguồn viết muộn vẫn đáng đọc, vì có thể giữ lại phần nào truyền thuyết đã mất. Gia phả, thần tích, truyện kể địa phương và tiểu thuyết lịch sử cũng cho biết người Việt nhiều đời đã hiểu về Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ và Nguyễn Thị Anh như thế nào. Nhưng các nguồn ấy cũng không đủ để kết luận về một hành vi cụ thể trong đêm Lệ Chi Viên.
| Nguồn | Khoảng cách với sự kiện | Điều nguồn này giúp xác nhận | Giới hạn cần giữ |
|---|---|---|---|
| Bia Hựu Lăng năm 1442 | Rất gần | Ngày Lê Thái Tông mất, việc triều đình lập lăng | Không kể nguyên nhân chết hay vụ án |
| Đại Việt sử ký toàn thư | Viết sau sự kiện | Hành trình, cơn bạo bệnh, việc xử Nguyễn Trãi và Thị Lộ, lời bình của sử thần | Không còn hồ sơ điều tra để kiểm tra từng lời quy kết |
| Đại Việt thông sử | Thế kỷ XVIII | Truyền thuyết chép Trịnh Khả hầu thuốc | Không phải chứng nhân độc lập năm 1442 |
| Chế truy tặng năm 1464 | Hai mươi hai năm sau án | Triều Lê Thánh Tông phục hồi danh vị Nguyễn Trãi | Không giải thích nguyên nhân vua mất hay thủ tục xét án cũ |
| Gia phả, thần tích, truyện kể | Phần lớn rất muộn | Ký ức dân gian và lịch sử tiếp nhận | Không dùng làm chứng cứ trực tiếp về vụ án |
Mười hai ngày của tháng tám
Chỉ cần nhìn vào niên biểu, ta đã thấy vì sao Lệ Chi Viên trở thành một vụ án lớn. Ngày 27 tháng bảy năm Nhâm Tuất, vua Lê Thái Tông đi tuần miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh. Nguyễn Trãi đón vua ở Côn Sơn. Mồng 4 tháng tám, xa giá đến vườn Vải ở huyện Gia Định và sau đó nhà vua mất. Mồng 6, linh cữu về tới kinh. Ngày 12, Hoàng thái tử Bang Cơ lên ngôi khi mới hai tuổi. Ngày 16, Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bị giết, án lan đến ba họ. Chưa đầy hai tuần từ ngày vua mất đến ngày xử tử. [2]
Tốc độ ấy khiến nhiều người hôm nay nghi ngờ bản án. Tôi hiểu phản ứng đó. Với thói quen pháp lý hiện đại, một vụ án giết vua phải có khám nghiệm, hỏi cung, đối chất và xác minh phương tiện phạm tội trước khi xử. Triều Lê sơ không vận hành theo thủ tục của một cơ quan điều tra ngày nay. Ta cũng không còn biết quy trình cụ thể đã diễn ra trong vụ án này như thế nào. Vì vậy, việc xử gấp không tự nó chứng minh mọi chứng cứ đều bị bịa ra. Triều đình vừa mất vua, người kế vị mới hai tuổi, và các quan triều đình phải lo phát tang, tôn lập, giữ trật tự cùng lúc với việc xử lý người bị nghi ngờ.
Từ niên biểu, ta chỉ nên rút ra hai điều: Vụ án diễn ra trong tình thế căng thẳng. Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ có rất ít thời gian để tự bảo vệ bản thân. Hai điều này chưa đủ để nói toàn bộ vụ án đã được sắp đặt từ trước.
Toàn thư chép rằng ngày mồng 6 các quan đưa linh cữu vào cung lúc nửa đêm rồi mới phát tang. Có người xem việc này là dấu hiệu che giấu một âm mưu. Cái chết của vua Lê Thái Tông cũng là loại tin tức có thể làm triều đình rối loạn, nên việc giữ kín tin trong lúc sắp xếp lễ nghi và kế vị có thể có một lý do thực tế. Cụm từ “bí mật đưa về” không cho ta biết các quan viên triều đình đã che giấu điều gì. Nó chỉ cho biết việc vua mất chưa được công bố ngay lúc đó.
| Mốc thời gian | Điều sử liệu ghi | Điều vẫn chưa rõ |
|---|---|---|
| 27 tháng 7 năm 1442 | Vua tuần miền Đông, duyệt quân ở Chí Linh, ghé Côn Sơn | Sức khỏe của vua trước chuyến đi và thành phần đoàn tùy tùng đầy đủ |
| 4 tháng 8 | Vua đến vườn Vải, bạo bệnh rồi băng | Cơ chế tử vong, diễn biến bệnh, ai chăm sóc trong đêm |
| 6 tháng 8 | Linh cữu về kinh, phát tang sau khi vào cung | Những trao đổi trong đoàn hộ giá và triều đình |
| 12 tháng 8 | Bang Cơ lên ngôi | Nội dung di mệnh và sự tham dự thực tế của từng đại thần |
| 16 tháng 8 | Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bị xử, tội đến ba họ | Cáo trạng, lời khai, vật chứng, cách hỏi cung |
Phần thiếu quan trọng nhất nằm giữa ngày mồng 4 và ngày 16. Trong mười hai ngày ấy, triều đình đã làm gì để đi từ một cơn bạo bệnh của nhà vua đến việc kết tội Nguyễn Thị Lộ, rồi xử Nguyễn Trãi? Chúng ta không còn một văn bản nào trả lời đầy đủ. Tôi sẽ không dùng trí tưởng tượng để lấp đoạn này. Các giả thuyết dưới đây chỉ là cách kiểm tra những điều có thể đã xảy ra.
Đọc kỹ vài chữ trong Toàn thư
Trước khi bàn về động cơ hay âm mưu, tôi muốn đọc kỹ ba cụm từ trong Toàn thư.
Thứ nhất là chữ “thích”. Toàn thư nói vua thích Nguyễn Thị Lộ, khen bà đẹp và giỏi văn chương, rồi gọi vào cung làm Lễ nghi học sĩ. Câu này cho thấy Lê Thái Tông để ý đặc biệt đến Thị Lộ. Sử không nói bà trở thành phi tần. Sử cũng không nói hai người đã có quan hệ thể xác.
Thứ hai là câu “ngày đêm hầu bên cạnh”. Trong cung đình, hầu vua có thể bao gồm việc công vụ. Nguyễn Thị Lộ mang chức Lễ nghi học sĩ, một chức danh hiếm khi được gắn với một phụ nữ trong chính sử. Chi tiết này cho thấy bà có vị trí khác với một cung nữ vô danh. Nhưng từ việc một nữ quan được ở gần vua đến việc bà là tình nhân của vua vẫn còn một khoảng cách khá xa. Chúng ta không có chiếu phong phi, không có ghi chép về một quan hệ hậu cung, cũng không có văn bản nói Nguyễn Trãi đồng ý hay phản đối việc vợ vào cung.
Thứ ba là câu “thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng”. Đây là câu khiến nhiều người nghĩ ngay đến quan hệ tình dục. Cách hiểu đó có lý do, nhất là khi lời bình sau đó của sử thần nhắc đến nữ sắc. Dù vậy, Toàn thư không ghi hai người giao hợp. Sử cũng không nói vua chết trong khi giao hợp, không cho biết đêm ấy có rượu hay thuốc, và không cho biết còn ai nữa cũng ở gần nhà vua.
Tôi không loại bỏ khả năng Lê Thái Tông và Nguyễn Thị Lộ đã có quan hệ tình cảm hoặc thể xác. Đoạn sử cho phép người đọc đặt giả thuyết ấy. Nhưng giả thuyết vẫn chỉ là giả thuyết. Không nên viết nó như một sự kiện đã được chứng minh.
Sự thận trọng này càng cần thiết khi nói về Nguyễn Trãi. Nhiều người đặt câu hỏi: nếu vợ mình gần gũi với vua như vậy, tại sao Nguyễn Trãi lại để yên? Câu hỏi ấy giả định Nguyễn Trãi có quyền quyết định việc vợ vào cung và có thể từ chối lệnh triệu của nhà vua. Trong trật tự quân chủ thế kỷ XV, một đại thần từng nhiều lần thất thế như Nguyễn Trãi khó có quyền lựa chọn đơn giản như vậy. Nguyễn Thị Lộ có thể được gọi vào cung trước hết vì tài năng và công việc lễ nghi. Điều ta không biết là quan hệ ấy thay đổi từ lúc nào, thay đổi đến đâu, và Nguyễn Trãi biết được bao nhiêu.
Nói Nguyễn Trãi có thể biết là một suy luận về đời sống vợ chồng và môi trường cung đình. Sử sách thì không ghi chép điều đó. Nói ông có thể tận dụng quan hệ ấy để làm chính trị còn đi xa hơn. Muốn đi đến kết luận này, trước hết phải chứng minh quan hệ giữa vua và Thị Lộ vượt khỏi công vụ. Sau đó cần chứng minh Nguyễn Trãi đã biết về chuyện đó. Cuối cùng cần có một việc cụ thể cho thấy ông nhận ảnh hưởng, thông tin, chức tước hay lợi ích từ mối quan hệ này. Hiện chưa có thư từ, chiếu chỉ hay lời khai nào nối được ba bước ấy.
Tài liệu đã mất, nên ta không thể đòi lịch sử trả lại một bức thư hay lời khai để mà xác minh. Nhưng việc thiếu vắng nhiều tài liệu, thông tin buộc những người nghiên cứu phải giảm mức khẳng định. Nó không cho phép chúng ta gọi một suy đoán là sự thật.
Những khả năng về cái chết của Lê Thái Tông
Chúng ta không có hồ sơ y tế, mô tả triệu chứng hay tử thi để giám định. Vì vậy, mọi cách gọi tên một căn bệnh, một độc chất hay một tai biến cụ thể đều là phỏng đoán. Tôi đặt các khả năng cạnh nhau để xem mỗi khả năng dựa vào nguồn nào và phải thêm vào bao nhiêu điều chưa được ghi chép lại.
Một cơn bệnh cấp tính, có thể đã nặng dần trong chuyến tuần du
Khả năng này bám sát câu chữ của Toàn thư nhất. Sử ghi vua bỗng bị bạo bệnh rồi băng. Đại Việt thông sử, viết muộn hơn, còn chép Trịnh Khả hầu thuốc khi vua nguy kịch. Một người đang đi tuần vẫn có thể mắc bệnh đột ngột. Nhà vua còn trẻ tuổi cũng không loại trừ các bệnh cấp tính. Người hôm nay có thể đoán sốt nặng, bệnh nhiễm, tai biến hay biến cố tim mạch. Những tên bệnh này đều do người sau này đặt ra, không phải kết luận có trong sử liệu. Cũng có thể nhà vua đã không hoàn toàn khỏe mạnh trước khi tới Lệ Chi Viên. Đoàn xa giá vừa đi tuần miền Đông, duyệt quân ở Chí Linh, rồi ghé Côn Sơn và vườn Vải. Một căn bệnh đang ủ có thể nặng lên vì di chuyển liên tục, thời tiết, ăn uống, mất ngủ hoặc kiệt sức. Đây vẫn chỉ là suy luận từ hoàn cảnh chuyến đi; sử sách không cho biết Lê Thái Tông có triệu chứng gì trước ngày mồng 4 tháng tám. Nhưng cách hiểu này nhắc ta rằng nguyên nhân cái chết có thể đã bắt đầu trước đêm ở vườn Vải.
Khả năng vua chết vì bệnh vẫn để lại một câu hỏi lớn. Nguyễn Thị Lộ hầu cận vua, có mặt trong đêm cuối, rồi vua chết và người đương thời quy tội cho bà. Một cái chết tự nhiên vẫn có thể xảy ra trong hoàn cảnh ấy. Sự có mặt của Thị Lộ không tự biến thành chứng cứ phạm tội. Nhưng khi sự có mặt đó dẫn đến án tru di, ta cần hỏi triều đình đã có thêm điều gì ngoài chi tiết này hay không.
Một cơn bạo bệnh bị làm quá bởi hoàn cảnh của đêm cuối
Nhiều người kể khả năng này bằng cụm “thượng mã phong”. Cách giải thích ấy nối ba chi tiết: vua mê Thị Lộ, thức suốt đêm với Thị Lộ, rồi chết. Nhưng chính sử không nói nhà vua chết trong khi giao hợp. Sử cũng không nói đêm ấy có rượu, thuốc bổ hay bất cứ thứ gì khác. Khi một cách giải thích thêm các chi tiết đó vào, nó đang tự tạo ra một cơ chế y học mà không có nguồn nào ghi chép.
Một cuộc vui, sự mệt mỏi, rượu hay thuốc có thể làm người đang bệnh trở nặng. Điều đó có thể xảy ra trong đời thực. Nhưng khả năng tất cả điều đó xảy ra trong đời thực không đủ để xác định nguyên nhân của một cái chết cụ thể năm 1442. Vì vậy, tôi chỉ giữ đây như một giả thuyết, không coi là nguyên nhân đã rõ.
Một sự cố liên quan Nguyễn Thị Lộ nhưng không có chủ ý giết vua
Một khả năng khác là nhà vua đã mệt hoặc có bệnh, rồi trong đêm ấy nhận thuốc, thức uống, món ăn hoặc sự chăm sóc không phù hợp. Nguyễn Thị Lộ là người hầu cận, nên bà có thể bị nghi ngờ; nhưng sử không cho biết ai trực tiếp dâng thuốc, thức ăn hay ở cạnh nhà vua vào từng thời điểm. Đại Việt thông sử còn chép Trịnh Khả hầu thuốc khi Thái Tông nguy kịch. Vì vậy, không nên tự đặt Nguyễn Thị Lộ vào vai người trực tiếp gây ra một sự cố mà nguồn không nói đến.
Giả thuyết này có thể xảy ra về mặt logic, nhưng hầu như cũng không có chứng cứ cụ thể. Không còn tên thuốc, đồ uống, món ăn, người bào chế, người dâng hay lời khai nào. Tôi không thể kể nó như một sự cố từng xảy ra. Nó chỉ nhắc rằng nguyên nhân cái chết có thể nằm giữa hai cực: chết hoàn toàn tự nhiên hoặc đầu độc có chủ mưu.
Nguyễn Thị Lộ chủ ý giết vua
Đây là hướng chính của bản án năm 1442, ít nhất theo cách Toàn thư kể lại. Ta không thể khẳng định các quan viên đương thời hoàn toàn không có chứng cứ. Họ có thể đã có lời khai hoặc tình tiết mà các văn bản sau này không giữ lại. Vì vậy, không ai có thể nói khả năng Thị Lộ cố ý hại chết vua là hoàn toàn không thể có.
Khi chỉ xét những gì còn lại, giả thuyết này thiếu hai phần quan trọng: cách thức và động cơ. Không có độc chất, nhân chứng hay mô tả cách giết. Động cơ cũng chưa rõ ràng. Nhà vua đang coi trọng Thị Lộ; Nguyễn Trãi vừa được gọi trở lại giúp triều đình. Nếu hai người cần chỗ dựa trong triều, cái chết của vua Lê Thái Tông trước hết là một tai họa cho họ. Có thể đã có mâu thuẫn cá nhân, sự cưỡng ép, bí mật hậu cung hay người đứng phía sau hay sao đó. Tuy nhiên hiện không có tư liệu nào chứng minh được các khả năng này.
Nguyễn Trãi chủ mưu
Nguyễn Trãi là chồng của Thị Lộ, là người đón Lê Thái Tông ở Côn Sơn, rồi cùng chịu án. Từ ba chi tiết này, người ta có thể dựng một kịch bản: ông dùng vợ để tiếp cận Lê Thái Tông và sắp đặt cái chết. Nhưng kịch bản này vướng ngay vào câu hỏi về lợi ích. Theo các ghi chép về những năm cuối triều, Lê Thái Tông đang dùng lại Nguyễn Trãi. Một vị vua trẻ còn sống mở ra cho Nguyễn Trãi nhiều cơ hội hơn một triều đình do thái hậu nhiếp chính cho một đứa trẻ hai tuổi. [5]
Không thấy động cơ không đồng nghĩa với vô tội. Người trong cuộc có thể có lý do mà người sau này không còn biết. Dù vậy, bất cứ ai cho rằng Nguyễn Trãi chủ mưu đều cần đưa ra lý do ấy bằng tài liệu hoặc một chuỗi tình tiết đáng tin. Hiện chúng ta chỉ có sự liên đới trong bản án. Không có dấu vết về kế hoạch, mệnh lệnh, phương tiện hay lợi ích mà Nguyễn Trãi nhận được sau cái chết của vua. Vì vậy, đây là giả thuyết có rất ít nền tảng trong nguồn còn lại.
Một phe khác sát hại vua rồi đổ tội
Giả thuyết một phe khác sát hại vua thường được nhắc đến vì nó phù hợp với bối cảnh kế vị. Bang Cơ còn quá nhỏ. Nguyễn Thị Anh, mẹ Bang Cơ, sẽ có vị trí đặc biệt nếu con mình lên ngôi. Những năm trước đó, việc phế lập thái tử và tranh chấp hậu cung đã làm triều đình Lê sơ nhiều xáo trộn. Lại có truyền thuyết kể rằng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ từng giúp Ngô Thị Ngọc Dao, mẹ vua Lê Thánh Tông sau này, thoát nạn. Nếu coi toàn bộ câu chuyện ấy là thật, người ta sẽ thấy động cơ loại trừ Nguyễn Trãi và Thị Lộ.
Chuyện Ngô Thị Ngọc Dao được cứu có mặt trong một số nghiên cứu và kể chuyện sau này. Các chi tiết then chốt lại không được chính sử gần sự kiện ghi đủ rõ để dùng làm chứng cứ cho một vụ giết người. Việc Nguyễn Thị Anh và Bang Cơ có lợi về vị thế sau cái chết của Thái Tông là một dữ kiện chính trị. Dữ kiện đó không chứng minh họ gây ra cái chết. Sự tồn tại của phe phái và hoạn quan cũng không chứng minh từng người cùng tham gia một kế hoạch.
Giả thuyết này còn cần trả lời nhiều câu hỏi: ai giết, giết bằng cách nào, vì sao người hộ giá và các đại thần khác không nói ra, triều đình đã dựa vào đâu để xử nhanh vậy, và vì sao không còn một dấu vết trực tiếp. Có thể một số thông tin đã mất. Cũng có thể những mắt xích ấy chưa từng tồn tại. Hiện đây vẫn là một giả thuyết chính trị, chưa phải lời giải đã được chứng minh.
Từ cái chết của nhà vua đến bản án của triều đình
Có một cách hiểu khác phù hợp hơn với tình trạng nguồn hiện còn. Nhà vua có thể thực sự chết trong một hoàn cảnh khiến Nguyễn Thị Lộ bị nghi ngờ theo cách nhìn của người đương thời. Cái chết có thể do bệnh, do sự cố hay do một nguyên nhân chưa rõ. Sau đó, trong khủng hoảng kế vị và cuộc đấu quyền lực vốn có, nghi ngờ đối với Thị Lộ có thể bị mở rộng thành đại án, rồi Nguyễn Trãi trở thành người chịu liên lụy nặng nhất.
Cách hiểu này không đòi hỏi giả định mọi quan viên trong triều cùng tham gia một kế hoạch. Nó cũng không khẳng định bản án năm 1442 chắc chắn sai hoàn toàn. Nó chỉ tách câu hỏi nguyên nhân chết ra khỏi câu hỏi triều đình đã gán trách nhiệm đến mức nào cho hai vợ chồng Nguyễn Trãi. Việc phục hồi quan tước năm 1464 khiến khả năng này đáng xem xét, dù văn bản truy tặng không cho biết triều Lê Thánh Tông đã bác bỏ phần nào của vụ án cũ. [6]
| Cách giải thích | Phần sử liệu có thể dựa vào | Phần chưa có chứng cứ | Cách đặt trong bài | Mức phù hợp với sử liệu còn lại |
|---|---|---|---|---|
| Bệnh cấp tính chưa xác định | “Bạo bệnh rồi băng”; chi tiết Trịnh Khả hầu thuốc trong nguồn muộn | Chẩn đoán và diễn biến bệnh | Khả năng có nền văn bản rõ nhất | Phù hợp hơn các khả năng khác |
| Bệnh có thể đã nặng dần trong chuyến tuần du | Hành trình tuần miền Đông, duyệt quân ở Chí Linh, ghé Côn Sơn rồi đến Lệ Chi Viên | Triệu chứng trước ngày mồng 4 tháng tám, ảnh hưởng cụ thể của việc di chuyển | Nêu như một khả năng nằm trong nhóm bệnh cấp tính | Có thể xảy ra, nhưng thiếu dữ kiện riêng |
| Bệnh bị làm nặng trong đêm cuối | Sự hầu cận của Thị Lộ, câu “thức suốt đêm” | Giao hợp, rượu, thuốc, cơ chế tử vong | Nêu như phỏng đoán có điều kiện | Có thể xảy ra, nhưng thiếu dữ kiện riêng |
| Sự cố vô ý trong việc chăm sóc nhà vua | Thị Lộ hầu cận; chi tiết Trịnh Khả hầu thuốc trong nguồn muộn | Thuốc, thức ăn, người dâng, hành vi hay sai sót cụ thể | Giữ như một khoảng khả năng, không kể thành chuyện | Có thể xảy ra, nhưng chưa có dấu vết cụ thể |
| Thị Lộ hoặc Nguyễn Trãi chủ ý giết vua | Bản án đương thời và sự liên đới của hai người | Động cơ, phương tiện, kế hoạch, chứng cứ trực tiếp | Nêu đầy đủ rồi chỉ ra phần trống | Ít điểm tựa trong nguồn còn lại |
| Phe khác sát hại vua rồi đổ tội | Bối cảnh kế vị, án xử nhanh | Hung thủ, phương thức, mệnh lệnh, chứng cứ | Đặt dưới dạng giả thuyết chính trị | Ít điểm tựa trong nguồn còn lại |
| Cái chết thật bị biến thành đại án | Tốc độ xử, bối cảnh quyền lực, phục hồi năm 1464 | Cơ chế điều tra và mức can thiệp của từng phe | Chuyển sang mục về quá trình hình thành bản án | Phù hợp để giải thích bản án, không giải thích nguyên nhân chết |
Khả năng nào phù hợp nhất với sử liệu còn lại?
Tôi không nghĩ có thể gán một tỷ lệ phần trăm chính xác cho từng khả năng. Không có hồ sơ khám nghiệm, mô tả triệu chứng, lời khai hay vật chứng để làm việc đó. Một con số như 60% hay 20% ở đây chỉ tạo cảm giác chắc chắn quá so với phần tư liệu cho phép.
Nếu chỉ dựa vào những gì còn lại, khả năng có nền tảng hơn cả là Lê Thái Tông qua đời vì một cơn bệnh cấp tính mà ngày xưa không thể gọi tên. Toàn thư chép nhà vua “bỗng bị bạo bệnh rồi băng”; Đại Việt thông sử, dù viết muộn, cũng còn giữ chi tiết Trịnh Khả hầu thuốc khi vua nguy kịch. [2] [4] Hai nguồn này không cho biết vua mắc bệnh gì, nhưng đều khiến cách giải thích bằng bệnh tật cần được đặt ở vị trí đầu tiên.
Khả năng thứ hai là cơn bệnh ấy bị làm nặng bởi chuyến tuần du hoặc những điều xảy ra trong đêm cuối. Mệt mỏi, thiếu ngủ, rượu, thuốc hay một sự chăm sóc không phù hợp đều có thể làm một người đang bệnh trở nặng. Nhưng sử không nói rõ đêm ấy có những gì. Vì vậy, phần này chỉ có thể được nêu như một khoảng khả năng, không thể kể thành một diễn biến đã biết.
Các giả thuyết về đầu độc, Nguyễn Trãi chủ mưu, hoặc một phe khác dựng án có lý do để được khảo sát: có bản án, có sự kế vị của một đứa trẻ, có những người thay đổi vị thế sau cái chết của vua. Dù vậy, các giả thuyết ấy vẫn thiếu cách thức, động cơ được ghi trực tiếp và dấu vết của một kế hoạch. Chúng chưa đứng ngang hàng với lời chép trực tiếp về cơn bạo bệnh.
Nguyễn Trãi có biết và có lợi dụng mối quan hệ đó hay không?
Đây là câu hỏi cần bàn riêng. Nếu Lê Thái Tông có tình ý với Nguyễn Thị Lộ, Nguyễn Trãi có thể biết một phần việc đang diễn ra trong cung. Hai người là vợ chồng. Thị Lộ cũng có vai trò chữ nghĩa trong những ghi chép về Nguyễn Trãi và được nhà vua biết đến. Từ các chi tiết ấy, suy đoán Nguyễn Trãi biết một phần tình hình là có thể hiểu được.
Tôi chỉ dừng ở chữ “một phần”. Chúng ta không biết Thị Lộ ở cung bao lâu mỗi lần, công việc cụ thể của bà là gì, vợ chồng gặp nhau và nói với nhau ra sao, hay quan hệ giữa bà với nhà vua đã đi đến mức nào. Tiểu thuyết lịch sử thường cho những câu hỏi ấy một lời giải đáp, vì tiểu thuyết cần đối thoại và động cơ. Sử liệu không cho chúng ta nhiều đến vậy.
Biết là một chuyện và dùng chuyện đó để làm chính trị là hai chuyện khác nhau. Người làm chính trị có thể coi thông tin từ cung cấm là quý giá. Nguyễn Trãi từng ở gần trung tâm quyền lực, từng bị cô lập rồi được gọi trở lại. Ông có thể hiểu vị trí của vợ mình có ý nghĩa gì. Muốn nói ông dùng Thị Lộ để tác động lên vua, ta cần một chứng cứ cụ thể hơn: một lần tiến cử, một quyết định đổi hướng, một văn thư, lời chứng hay lợi ích có thể lần được. Hiện chưa có những chứng cứ như vậy.
Có một lập luận đáng giữ lại. Nếu Nguyễn Trãi thật sự có ảnh hưởng qua Thị Lộ, ông cần nhà vua còn sống. Nhà vua chết thì ảnh hưởng ấy mất ngay, và Nguyễn Trãi cũng mất người đang trọng dụng mình. Lập luận này không chứng minh ông không biết hay không từng tận dụng sự gần gũi giữa vua và Thị Lộ. Nó chỉ cho thấy cái chết của Thái Tông không đem lại lợi ích rõ ràng cho Nguyễn Trãi.
Tôi giữ giả thuyết này dưới dạng ba câu hỏi. Quan hệ giữa vua và Thị Lộ vượt công vụ đến đâu? Nguyễn Trãi biết đến đâu? Nếu biết, ông đã làm gì với điều mình biết? Câu thứ nhất thiếu chứng cứ trực tiếp. Câu thứ hai dựa nhiều vào suy luận. Câu thứ ba chưa có nguồn nào chứng minh. Vì vậy, ba câu hỏi này chưa thể biến thành một kết luận.
Chính trị xoay quanh cái chết của một vị vua trẻ
Lệ Chi Viên xảy ra khi triều Lê sơ còn nhiều bất ổn. Lê Thái Tông mất khi còn rất trẻ. Bang Cơ lên ngôi lúc mới hai tuổi, nên quyền lực triều chính chuyển sang thái hậu và các đại thần cố mệnh. Cái chết của Lê Thái Tông khiến những người có liên quan đến hậu cung, cấm quân và nhóm công thần đều trở nên nhạy cảm.
Không thể xem vụ án chỉ là chuyện riêng giữa một nhà vua và vợ của một đại thần. Cái chết của vua làm vị thế của nhiều người thay đổi ngay. Nguyễn Thị Anh trở thành mẹ của ông vua mới nhỏ tuổi. Bang Cơ từ thái tử thành hoàng đế. Các đại thần hộ giá và nhận di mệnh phải đứng ra sắp xếp triều đình. Nguyễn Trãi mất người đang trọng dụng mình và rơi vào thế rất yếu. Đây là bối cảnh chính trị của vụ án.
Bối cảnh chính trị giúp ta hiểu vì sao vụ án có thể bị đẩy đi rất nhanh. Nó không thể tự cho ta biết ai gây ra cái chết. Người hưởng lợi sau một biến cố cũng có thể là người đã tạo ra biến cố, người chờ cơ hội để lợi dụng, hoặc người chỉ ở đúng vị trí khi biến cố xảy ra. Ba khả năng này cần được phân biệt. Trong một cuộc khủng hoảng, sẽ có người hoảng hốt, người giữ quyền lợi, người nghe lời đồn và người sợ trách nhiệm. Những phản ứng đó đôi khi đủ để biến một nghi ngờ thành một bản án.
Sau khi Nguyễn Trãi bị xử tử, Toàn thư còn chép việc Đinh Phúc và Đinh Thắng bị giết vào ngày 9 tháng chín. Lịch sử có nói lúc sắp bị hành hình, Nguyễn Trãi hối hận vì không nghe lời hai người này. Đây là chi tiết đáng chú ý, vì nó cho thấy Đinh Phúc và Đinh Thắng có liên hệ nào đó với Nguyễn Trãi vào thời điểm cuối cùng. Nhưng nội dung lời khuyên đã mất, Nguyễn Trãi đã hối hận điều gì? Ta không thể suy ra họ đã khuyên Nguyễn Trãi về Nguyễn Thị Lộ, người kế vị, một âm mưu hay một chuyện nào khác. [2]
Nhiều giả thuyết lớn bắt đầu từ chi tiết này. Tôi vẫn giữ nó trong bài viết vì nó cho thấy vụ án còn nhiều điểm chưa rõ ràng. Nhưng một câu hối hận không thể giải thích toàn bộ Lệ Chi Viên. Có những thông tin lịch sử đã mất thật. Cũng có những lời giải thích do người đời sau thêm vào từ một câu sử mơ hồ.
Chuyện Ngô Thị Ngọc Dao cũng cần được đọc kỹ như vậy. Nhiều nghiên cứu và truyện kể gắn Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ với việc cứu Ngọc Dao, sau này là mẹ của vua Lê Thánh Tông. Nếu câu chuyện này đúng với các chi tiết thường được kể, thì khả năng là Nguyễn Thị Anh sẽ có động cơ trả thù hai người khi con mình lên ngôi. Nhưng trước khi dùng nó để giải thích vụ án, ta phải hỏi văn bản sớm nhất ghi chép lại chuyện này là gì, văn bản đó nói rõ đến đâu, và chi tiết nào được gia phả hay các tác giả đời sau thêm vào.
Bài viết vẫn có thể nhắc đến truyền thuyết này, miễn nói rõ nó thuộc nguồn nào. Nếu không làm vậy, ta sẽ lấy một khả năng chính trị để chứng minh động cơ, rồi dùng động cơ ấy để kết luận sai. Cách lập luận này rất dễ trôi, nhưng từng bước đều cần được kiểm lại.
Sự phục hồi quan tước năm 1464 nói lên điều gì?
Hai mươi hai năm sau vụ án, Lê Thánh Tông ban Chế truy tặng Nguyễn Trãi, phục hồi quan tước và cho tìm lại con cháu để sử dụng. Văn bản ca ngợi công lao Nguyễn Trãi trong sự nghiệp Lam Sơn và dưới hai triều. Khi nói về số phận của ông, văn bản dùng một câu dè dặt: thời và mệnh không đi đôi, lẽ huyền bí khó biết. [6]
Nhiều người xem văn bản này là bằng chứng Nguyễn Trãi hoàn toàn vô tội, đồng thời cho rằng Nguyễn Thị Lộ đã được minh oan đầy đủ. Việc Lê Thánh Tông công khai phục hồi Nguyễn Trãi có ý nghĩa khá lớn. Nhưng Chế năm 1464 không phải hồ sơ tái thẩm theo nghĩa hiện đại. Văn bản không công bố hồ sơ cũ, không nêu nguyên nhân cái chết của vua Thái Tông, không liệt kê chứng cứ sai và không xác định ai đã làm oan ai, và liệu có oan tình hay không.
Sự phục hồi này chỉ cho thấy triều Lê Thánh Tông không chấp nhận để Nguyễn Trãi tiếp tục bị gạt ra khỏi hàng công thần. Từ đó, ta có thể hiểu rằng bản án năm 1442, hoặc ít nhất hậu quả dành cho Nguyễn Trãi, đã không còn được nhìn nhận như trước. Muốn nói xa hơn thì phải cần có thêm tư liệu.
Với Nguyễn Thị Lộ, tình hình khó hơn. Có những văn bản và truyền thuyết sau này cho rằng bà không can dự vào tội giết vua. Một số nghiên cứu thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI còn chỉ Nguyễn Thị Anh là người chủ mưu. Các công trình này có giá trị vì buộc người đọc nhìn Nguyễn Thị Lộ như một phụ nữ có học thức và vị trí trong triều, thay vì chỉ xem bà là người đàn bà gây họa. Nhưng một cách đọc mới vẫn không thay thế được chứng cứ trực tiếp về nguyên nhân cái chết của Lê Thái Tông. [7]
Khi viết về vụ án 560 năm sau đó, GS Phan Huy Lê nói nhiều giả thuyết chỉ là chuỗi suy luận logic hoặc mới được chứng minh một phần. Ông cũng nhấn mạnh tư liệu còn lại quá ít, nên rất khó làm sáng tỏ toàn bộ vụ án. Nhận xét này là giới hạn cần giữ khi viết về vụ án Lệ Chi Viên. [8]
Đến đây, có thể giữ lại điều gì?
Có vài điều tôi nghĩ chúng ta có thể giữ lại. Lê Thái Tông chết ở Lệ Chi Viên ngày mồng 4 tháng tám năm 1442; Toàn thư gọi đó là một cơn bạo bệnh. Nguyễn Thị Lộ là Lễ nghi học sĩ, được vua đặc biệt yêu thích và hầu cận. Bà xuất hiện trong đoạn sử kể về đêm cuối. Nguyễn Trãi đón vua ở Côn Sơn, rồi chịu án tru di cùng vợ. Triều đình xử lý rất nhanh trong lúc phải giải quyết việc kế vị của một đứa trẻ hai tuổi. Hơn hai mươi năm sau, Nguyễn Trãi được phục hồi danh vị.
Phần còn lại là suy luận với những mức độ khác nhau. Lê Thái Tông và Nguyễn Thị Lộ có thể đã có quan hệ tình cảm hoặc thể xác, nhưng sử liệu chưa chứng minh điều đó. Nguyễn Trãi có thể biết nhiều hơn những gì sử ghi, nhưng chưa có chứng cứ cho thấy ông dùng quan hệ này để đổi lấy ảnh hưởng. Nhà vua có thể chết vì bệnh, vì sự cố vô ý hoặc vì hành động của ai đó. Tài liệu hiện còn không đủ để chọn một nguyên nhân. Triều đình có thể từng có thông tin đã mất; chúng ta không biết thông tin ấy là gì và có đáng tin đến đâu.
Lệ Chi Viên vẫn là một biến cố rất thật, dù hồ sơ còn lại quá ít. Một vị vua trẻ chết ngoài cung. Một phụ nữ hầu cận bị quy tội. Một đại thần khai quốc bị kéo vào án tru di. Một đứa trẻ lên ngôi và triều đình phải ổn định quyền lực ngay sau đó. Các sự kiện này đủ nặng để ta tìm hiểu kỹ. Chúng chưa đủ để cho phép chúng ta tự thêm động cơ, lời nói hay hành vi mà nguồn không chép.
Tôi không biết Nguyễn Thị Lộ ở cạnh Lê Thái Tông trong đêm cuối với tư cách nào ngoài những gì Toàn thư ghi. Tôi cũng không biết Nguyễn Trãi nghe được gì từ vợ mình, tin ai, sợ điều gì, hay đã bỏ qua lời khuyên nào của Đinh Phúc và Đinh Thắng. Những câu “tôi không biết” cần được giữ lại trong một bài viết lịch sử. Chúng cho người đọc thấy đâu là dấu vết của quá khứ, đâu là phần suy đoán của tôi..
Nguồn và ghi chú
- Phạm Thị Thủy Vinh, “Hoàng đế Lê Thái Tông và uy danh của Đại Việt qua văn bia Lam Sơn Hựu lăng bi”, Thông báo Hán Nôm học 2012, tr. 849–852. Bài công bố nguyên văn và bản dịch bia Hựu Lăng, niên đại Đại Bảo 3 (1442).
- Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, bản dịch Cao Huy Giu, Đào Duy Anh hiệu đính, chú giải, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, Bản kỷ, quyển XI, phần năm Nhâm Tuất 1442. Các trang được các bản in đánh số quanh tr. 355–356.
- Về lịch sử văn bản Toàn thư, xem phần giới thiệu của Đào Duy Anh trong Đại Việt sử ký toàn thư, sđd. Bản Nội các quan bản được khắc in năm 1697; phần biên soạn đời Lê sơ có lịch sử hình thành phức tạp.
- Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, tập III, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, tr. 211, mục Trịnh Khả.
- Phan Huy Lê, “Nguyễn Trãi 560 năm sau vụ án Lệ Chi Viên”, Tạp chí Xưa và Nay, số 123, 2002. Bài viết dùng để tham chiếu bối cảnh Nguyễn Trãi được gọi trở lại làm việc và những giới hạn của tư liệu, không được dùng như chứng cứ trực tiếp cho sự kiện năm 1442.
- Chế truy tặng Nguyễn Trãi năm Quang Thuận thứ 5 (1464), chép trong các tuyển tập Nguyễn Trãi và các bản Đại Việt sử ký toàn thư phần triều Lê Thánh Tông. Bài này chỉ dùng văn bản để xác nhận việc truy tặng và ngôn ngữ của sự phục hồi, không suy diễn thành biên bản tái thẩm.
- Hoàng Đạo Chúc, chủ biên, Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ với thảm án Lệ Chi Viên, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004. Đây là tập hợp tham luận có khuynh hướng minh oan mạnh; các luận điểm trong sách cần được đặt cạnh nguồn gốc mà từng tác giả sử dụng.
- Phan Huy Lê, sđd.
