/tìm@email

Những đặc quyền tự phong

Ai đang trả giá cho cái tiện lợi mà tôi đang chiếm lấy?

Tôi sống ở Sài Gòn từ nhỏ tới giờ, năm nay ba mươi tám tuổi. Chừng đó thời gian đủ để tôi thuộc lòng khá nhiều thứ mà người ta không cần dạy trong trường học: con đường nào mưa lớn là ngập trước, ngã tư nào vừa xanh đèn đã phải nhìn hai bên, quán nào còn mở sau nửa đêm, đoạn hẻm nào nên đi chậm vì xe máy có thể lao ra bất cứ lúc nào. Nhưng có lẽ thứ tôi thuộc lòng nhất là một thứ luật lệ âm thầm, tồn tại dai dẳng trong đời sống của thành phố này: phần không gian trước cửa nhà, dù trên giấy tờ không thuộc về ai riêng biệt, lại rất nhiều người vẫn xem như một phần nối dài vô lý của căn nhà mình.

Một chiếc xe hơi đậu trước mặt tiền có thể làm chủ nhà khó chịu hơn chuyện chiếc xe đó có đậu đúng luật hay không. Nó che bảng hiệu, làm khách khó ghé, làm chỗ buôn bán vốn đã đắt đỏ bỗng bớt thuận lợi. Một người dừng lại trước quán có thể bị hỏi ngay: “Đi chỗ khác, đậu trước nhà tôi làm gì?” Câu hỏi đó nghe riết thành quen. Người ta không hỏi xe có chắn lối ra vào không, có vi phạm không, hay có gây nguy hiểm cho ai không. Người ta hỏi bằng một tâm thế kì lạ: vì sao bạn lại dùng thứ mà trong đầu họ đã thuộc về họ từ lâu? Tôi hiểu cảm giác ấy. Ai đã từng buôn bán, từng trả tiền thuê mặt bằng, từng ngồi nhìn khách đi qua mà không ghé vào đều hiểu mặt tiền buôn bán quan trọng tới mức nào. Trong một thành phố mà từng mét vuông đều mắc tiền, người ta dễ nghĩ thêm được một chút chỗ để xe, thêm một cái bàn, thêm một tấm bảng, là thêm cơ hội kiếm tiền. Cái đáng nói không nằm ở chỗ người ta muốn sống dễ dàng hơn. Ai cũng muốn sống dễ hơn, kể cả tôi. Cái đáng nói tới ở đây là từ lúc nào phần tiện ích của một người lại được phép xây trên phần bất tiện của rất nhiều người khác, mà người hưởng lợi đó vẫn có thể tin rằng bản thân mình là người tốt, mình chẳng lấy gì của ai.

Tôi từng viết về vỉa hè. Nhưng ngẫm nghĩ lâu hơn, tôi thấy vỉa hè chỉ là chỗ dễ thấy nhất của một câu chuyện rộng hơn nhiều. Chúng ta có một thói quen rất lạ lùng: tự cấp cho mình những đặc quyền mà không ai cấp. Mỗi người tự ký một tờ giấy phép vô hình, cho phép mình lấy thêm một chút chỗ, một chút thời gian, một chút ưu tiên, một chút tiền, một chút tiện nghi. Mỗi lần đều nhỏ. Mỗi lần đều có một lý do nghe qua rất hợp tình. Và vì người phải chịu phần thiệt đó thường không đứng ngay trước mặt, chúng ta hiếm khi gọi đúng tên điều mình đang làm.

Không gọi là chiếm dụng, gọi là để tạm.
Không gọi là lấy thời gian của người khác, gọi là có việc riêng.
Không gọi là đẩy người khác vào nguy hiểm, gọi là đường đông quá.
Không gọi là dùng thứ không rõ nguồn gốc, gọi là deal ngon.

Càng lớn tôi càng thấy rất nhiều chuyện xấu trong đời sống bắt đầu từ chữ “ai cũng”. Ai cũng để xe vậy. Ai cũng leo lề vậy. Ai cũng mua tài khoản rẻ vậy. Ai cũng trễ giờ một chút. Ai cũng lách một đoạn thôi. Nó giống như một cái mền ấm: chỉ cần chui vào trong đó, người ta có thể đỡ phải ngượng ngùng trước điều mình đang làm.

Phần đất trước cửa nhà

Ở Sài Gòn có một loại tài sản đặc biệt. Nó không có giấy tờ, không đóng thuế, không thể mua bán một cách chính thức, nhưng chủ nhân của nó thì đông vô số kể. Đó là khoảng đất trước cửa nhà. Ban đầu thường chỉ là một chậu cây, một cái ghế nhựa, vài chiếc xe máy dựng sát nhau. Rồi chậu cây lớn thành bồn cây, cái ghế kéo theo cái bàn, xe máy kéo theo mái che, biển hiệu, khung sắt, bậc tam cấp. Vỉa hè vốn đã hẹp, đôi khi do qui hoạch, đôi khi do xây dựng lấn chiếm, đi một hồi chỉ còn đủ cho một người lách qua. Người đẩy xe em bé phải xuống lòng đường. Người già phải né xe. Người ngồi xe lăn nhiều khi chỉ còn cách quay đầu.

Nhưng thử hỏi chủ nhà, rất có thể họ sẽ nói: “Tôi để trước nhà tôi chứ để trước nhà ông hả?” Câu trả lời đó không phải lúc nào cũng xuất phát từ ác ý. Nó chỉ cho thấy một ranh giới đã bị kéo dài trong đầu óc nhiều người. Căn nhà có ranh giới trên sổ sách, nhưng ranh giới trong tâm trí thường đi xa hơn, tới chỗ nào mắt mình còn nhìn thấy, chỗ nào tiếng rao còn nghe được, chỗ nào một chiếc xe dừng lại có thể làm mình bực bội.

Chúng ta luôn dễ cảm thông với chuyện mưu sinh, và nên như vậy. Có những gia đình thật sự bám vào một gánh hàng, một chiếc xe đẩy, một quán cơm nhỏ để nuôi con. Đời không đơn giản đến mức chỉ cần nói “đúng luật đi” là mọi thứ tự nhiên ổn thoả. Nhưng chính vì cuộc đời này vốn phức tạp, mình càng phải cẩn thận với những lời biện minh quá đỗi dễ dàng. Một người cần nuôi gia đình không vì thế mà có quyền lấy điện nhà bên cạnh. Một cửa hàng cần thêm khách hàng không vì thế mà có quyền ăn cắp lối đi của người khác. Một quán ăn kê thêm năm cái bàn ra vỉa hè không còn là đang mưu sinh; nhiều khi họ đang tiết kiệm một khoản chi phí thuê mặt bằng bằng cách gửi khoản chi phí đó sang bước chân của cả thành phố.

Đó là chỗ câu chuyện trở nên khó chịu. Người kinh doanh được thêm chỗ. Khách có thể ngồi thoải mái hơn. Chủ nhà thấy tiện. Nhưng người đi bộ phải trả giá. Người đang dắt một đứa nhỏ phải trả giá. Người không còn đủ sức khỏe để luồn lách phải trả giá. Họ trả bằng thời gian, bằng sự bất an, bằng một quãng đường phải đi vòng, hoặc tệ hơn, bằng việc buộc phải bước xuống lòng đường giữa xe cộ nguy hiểm.

Không có ai gửi một tờ hóa đơn nào về nhà chủ quán, ghi rằng hôm nay năm cái bàn kia đã lấy của một người già mười hai phút an toàn. Không có ai đứng trước cửa nhà nhắc rằng cái chậu cây kia vừa khiến một người đi xe lăn phải xuống lòng đường. Thành ra người hưởng lợi không cảm thấy mình đang lấy cắp cái gì cả. Họ chỉ thấy mình đang sắp xếp cuộc sống của mình cho "khôn" hơn.

Mỗi người một chút, rốt cục thành phố mất nguyên một thứ lớn lao. Nó mất cảm giác rằng mình có thể bước ra khỏi nhà và đi bộ một cách bình thường. Điều nghe rất cơ bản ở nhiều nơi, ở đây lại thành một dạng xa xỉ phẩm.

Khi người đi bộ bị đẩy ra lòng đường

Tôi không phải người khuyết tật. Tôi không phải người già. Tôi cũng không phải một bà mẹ ngày nào cũng phải đẩy xe em bé ngoài đường. Có lẽ vì vậy mà trong một thời gian dài, tôi đi ngang những vỉa hè bị lấn chiếm mà không suy nghĩ nhiều. Mình quen rồi. Quen tới mức đang đi bộ, nghe tiếng xe máy từ phía sau lao lên vỉa hè, phản ứng đầu tiên là né sang một bên. Không phải tự hỏi tại sao mình lại là người phải né cái xe đó.

Đó là một điều rất kỳ lạ. Người đi bộ là người chậm nhất, ít nguy hiểm cho ai nhất, và cũng ít có khả năng tự bảo vệ mình nhất. Nhưng họ thường là người bị đẩy ra sau cùng trong mọi cuộc thương lượng vô hình về đường phố. Xe máy cần chạy nhanh hơn, thế là leo lên vỉa hè. Quán cần chỗ để xe, thế là chiếm vỉa hè. Nhà cần thêm một bậc cấp, thế là nới ra vỉa hè. Công trình cần đặt vật liệu, thế là để đầy vỉa hè. Xe hơi cần dừng lại, thế là án ngữ vỉa hè. Cuối cùng, người đi bộ được mời xuống lòng đường, đi chung với những thứ nặng hơn mình, nhanh hơn mình, và không phải lúc nào cũng chịu nhìn về phía mình. Nếu một người khỏe mạnh, tay chân đầy đủ, quen đường, còn thấy đi bộ ở Sài Gòn mệt và nguy hiểm, thì một người không có đủ những điều đó sẽ sống thế nào? Có những thiệt thòi không xuất hiện dưới dạng một cuộc cãi vã. Một người ngồi xe lăn không qua được đoạn đường đó sẽ không đứng trước cửa nhà mình để lớn tiếng. Họ chỉ bỏ đi một cách khó khăn. Một người già sợ xe cộ sẽ không lên mạng than thở. Họ sẽ ở nhà nhiều hơn. Một bà mẹ đẩy xe cho con gặp vỉa hè bị chặn sẽ lặng lẽ bế con lên, dắt xe xuống đường, rồi đi tiếp nếu còn đủ can đảm.

Những người đó không có tiếng nói lớn trong cảnh hỗn độn ngoài đường xá. Họ không bóp còi to hơn. Họ không chen được nhanh hơn. Họ không cãi thắng người đang xem chỗ công cộng là tài sản riêng. Bởi vậy, phần giá họ phải trả cũng rất dễ bị bỏ quên. Khi nói về trật tự đô thị, người ta hay nói tới mỹ quan, tới ùn tắc, tới dẹp cho gọn. Nhưng điều đáng nói nhất, với tôi, vẫn là một câu đơn giản: thành phố này có còn chỗ cho người yếu thế hay không?

Đừng nói với tôi rằng ai cũng phải tự biết thích nghi. Một thành phố bắt người già, trẻ nhỏ, người khuyết tật và người không có xe phải tự thích nghi với sự ích kỷ của người khỏe hơn không phải là thành phố giỏi thích nghi. Nó chỉ là một nơi đang chấp nhận đẩy phần yếu nhất của mình ra rìa.

Cái quyền được tới trước

Giao thông là nơi những đặc quyền tự phong lộ ra rõ nhất. Chạy xe ở Sài Gòn lâu rồi, tôi hiểu cảm giác sốt ruột. Trời nóng, người mệt, đường kẹt, phía trước có một khoảng hở. Chỉ cần lấn lên là có thể đi thêm vài mét. Mấy mét đó trong lúc kẹt xe có khi quý như một cánh cửa thoát hiểm. Rồi người bên cạnh cũng lấn. Người phía sau thấy vậy cũng lấn. Một dòng xe vốn đã chật bắt đầu vỡ thành nhiều lớp hỗn độn. Ai cũng có một lý do. Tôi vội. Tôi trễ giờ. Đường này kẹt quá. Xe trước đi chậm. Người ta lấn trước thì tôi phải lấn theo, không thì tôi chịu thiệt. Nghe kỹ, gần như không ai nói họ muốn gây nguy hiểm cho người khác. Ai cũng chỉ muốn tiết kiệm cho mình một chút thời gian. Nhưng thời gian đó lấy ở đâu ra? Nó lấy từ làn đường đi ngược chiều, từ vỉa hè của người đi bộ, từ khoảng cách phanh của xe phía trước, từ sự nhường nhịn mà nếu ai cũng có thì có lẽ giao thông còn thoáng hơn và ai cũng được di chuyển nhanh hơn.

Tôi có để ý một cảnh rất nhỏ. Khi đèn đỏ vừa chuyển xanh, những chiếc xe ở phía sau chưa kịp đi đã có người từ hai bên lao lên, cắt ngang, ép vào đầu dòng. Không phải vì họ không biết xếp hàng. Ai cũng biết. Chỉ là họ không muốn đứng ở vị trí mình đang đứng. Họ có một niềm tin âm thầm rằng nếu mình không giành, mình sẽ mất; nếu mình nhường, người khác sẽ lấy hết; nếu mình tuân thủ, mình sẽ là người thiệt duy nhất còn đứng lại.

Niềm tin đó làm cho sự tử tế bị hiểu nhầm là yếu đuối. Bạn nhường một chiếc xe nhập làn, xe thứ hai sẽ chen theo. Bạn chừa khoảng trống cho người đi bộ, có xe khác lập tức luồn vào. Bạn chạy đúng làn, có người nhìn bạn như thể bạn đang cản đường họ. Lâu dần, nhiều người không còn muốn làm điều đúng nữa, không hẳn vì họ không biết đúng sai, mà vì họ sợ mình là người duy nhất chịu thiệt.

Tôi không tin một thành phố văn minh là thành phố không có ai vi phạm luật pháp. Chuyện đó không tồn tại ở kỳđâu. Nhưng tôi tin một thành phố đáng sống là nơi người ta còn thấy ngượng khi lấy sự an toàn của người khác đổi lấy vài phút tiện lợi riêng cho mình. Ở đây, có khi chúng ta đã không biết ngượng quá lâu rồi.

Những khoản nợ thời gian và lòng tin

Có những thứ không nhìn thấy được như vỉa hè hay làn đường, nhưng bị lấy đi rất nhiều mỗi ngày. Thời gian là một trong số đó. Tôi không nói về người thật sự phải chạy đi đón con, đưa người nhà đi bệnh viện, hay gặp một việc bất ngờ. Cuộc sống ai cũng có lúc rối rắm. Tôi nói về những lần mình biết rõ mình đang ăn bớt giờ làm, ăn bớt trách nhiệm, ăn bớt phần việc của người khác, nhưng bọc nó lại bằng những câu nghe rất vô tư: “Tôi ra ngoài gặp khách.” “Tôi có việc gấp.” “Để mai làm.” “Cái này không phải phần của tôi.”

Một người đi trễ mười phút có thể không phải chuyện lớn. Một người rời văn phòng sớm, ngồi bấm điện thoại trong giờ làm, đẩy một email sang ngày hôm sau, cũng chưa chắc tạo ra thảm họa. Nhưng khi cả một tập thể đều có những cái “một chút” như vậy, phần việc không biến mất. Nó rơi vào ai đó. Rơi vào người vẫn còn ngồi lại. Rơi vào người không quen nói không. Rơi vào người làm kỹ hơn. Rơi vào người mới vào công ty nên chưa dám từ chối. Rơi vào khách hàng đang chờ một phản hồi mà chẳng hiểu sao mãi không tới. Chúng ta hay nói về năng suất, về văn hóa doanh nghiệp, về chuyện công ty phải biết giữ người giỏi. Nhưng có một thứ ít được nói thẳng mặt: nhiều nơi mệt không chỉ vì sếp tệ hay hệ thống tệ. Nó mệt vì từng người trong đó đều đang cố lấy thêm một phần nhẹ nhàng cho mình, rồi để người khác gánh một phần nặng nhọc hơn. Có người nói rất hay về tinh thần đội nhóm, nhưng lúc gần hạn chót thì biến mất. Có người giỏi đòi quyền lợi, nhưng rất dở khi phải nhận trách nhiệm về bản thân. Có người luôn biết cách kể hoàn cảnh của mình để được thông cảm, nhưng không bao giờ hỏi xem người đang gánh lấy phần phải làm của họ có hoàn cảnh gì.

Chuyện đó không chỉ có ở công sở. Nó nằm trong những lời hẹn không tới, những khoản tiền mượn rồi im lặng, những việc đã hứa làm nhưng để người khác phải nhắc, những cuộc gặp mà một người luôn đến muộn rồi cười xòa. Có người nghĩ mấy chuyện đó nhỏ xíu. Nhưng lòng tin không chết vì một cú đâm lớn. Nó mòn đi vì những khoản nợ nhỏ không ai trả.

Một lần bạn bè cho mượn tiền rồi không trả đúng hẹn, có thể tình bạn chưa mất ngay. Nhưng lần sau họ sẽ ngần ngại. Một lần bạn hứa làm gì rồi quên, người ta vẫn bỏ qua. Nhưng tới lần thứ năm, họ sẽ không còn nhờ cậy. Một lần bạn để đồng nghiệp xử lý giùm, có thể không sao. Nhưng nếu nó thành nếp, sẽ có ngày người ta vẫn cười với bạn, vẫn làm việc với bạn, nhưng không còn tin tưởng bạn như trước nữa.

Lòng tin không có tiếng động khi bể. Nó chỉ làm mọi thứ trở nên đắt giá hơn trước. Muốn vay tiền thì khó hơn. Muốn hợp tác thì phải kiểm tra nhiều hơn. Muốn thuê ai thì phải đặt cọc nhiều hơn. Muốn giao việc thì phải họp nhiều hơn, viết nhiều hơn, giám sát nhiều hơn. Rồi chúng ta than sao làm gì cũng mệt. Có lẽ vì chúng ta đã sống trong một môi trường nơi người ta buộc phải chuẩn bị cho khả năng người khác sẽ không làm đúng phần của họ.

Cái giá bị giấu trong một “deal ngon”

Trên mạng, thói quen tự cấp đặc quyền cho mình càng dễ phát triển vì người trả giá thường ở rất xa. Xa về địa lý, xa về thời gian, xa tới mức mình không cần nhìn vào mắt họ. Một phần mềm vài trăm đô được bẻ khóa rồi tải về miễn phí. Một bộ phim mới ra được đưa lên web lậu, chỉ cần bấm vào là coi. Một trận bóng có bản quyền đắt tiền được phát lậu; chất lượng có thể tệ một chút, quảng cáo cờ bạc nhảy lên một chút, nhưng miễn phí. Một gói YouTube Premium, Netflix hay AI được ai đó rao bán với giá rẻ tới mức nghe là biết có gì không ổn. Tôi không muốn gom hết những chuyện đó vào một rọ. Dùng chung tài khoản, tận dụng khuyến mãi, hay mua dịch vụ ở vùng giá khác không phải lúc nào cũng giống nhau về mức độ. Có việc chỉ là lách điều khoản. Có việc nằm trong vùng xám. Nhưng có một ranh giới khá rõ: khi giá rẻ đến mức chính mình cũng hiểu là không thể có nguồn gốc tử tế, mà vẫn quyết định “kệ đi, biết sao giờ”, thì bản thân mình không còn vô can nữa.

Một tài khoản quá rẻ có thể là tiền từ thẻ tín dụng của ai đó bị đánh cắp. Có thể là tài khoản người khác bị chiếm. Có thể là một chuỗi người mua bán lỗ hổng, lừa đảo, giả mạo mà cuối cùng ai đó sẽ phải trả giá. Người mua không trực tiếp lấy thẻ trong ví của ai. Họ chỉ mua món hàng được mang tới trước mặt mình. Nhưng nhiều khi đó là cách thuận tiện nhất để chúng ta tránh phải biết điều mình đã biết.

Trên Internet, sự vô hình làm lương tâm nhẹ đi rất nhiều. Bạn không thấy người dựng phim đã ngồi bao lâu, các diễn viên cực nhọc ra sao, từng đồng vốn của nhà đầu tư rót vô thế nào. Bạn không thấy nhóm kỹ sư viết phần mềm đã còng lưng sửa lỗi qua từng đêm như thế nào. Bạn không thấy chủ thẻ tín dụng bị lấy cắp phát hiện tiền bị trừ lúc nửa đêm ra sao. Bạn chỉ thấy một nút tải về, một đường link xem miễn phí, một gói tài khoản có giá bằng vài ly cà phê. Rồi mình gọi đó là biết tiết kiệm.

Tôi không phản đối tiết kiệm. Sống ở thời buổi này, ai cũng phải cân tiền. Không phải ai cũng có điều kiện mua mọi thứ ở giá niêm yết. Nhưng tiết kiệm khác với việc biến công sức của người khác thành thứ mà mình mặc định được quyền lấy miễn phí. Một người không mua vì chưa đủ tiền là chuyện bình thường, không có gì đáng xấu hổ. Nhưng một người có khả năng trả mà luôn tìm đường lấy thứ mình muốn với giá gần bằng không, chỉ vì họ có thể, thì đó không còn là nghèo hay khó khăn nữa. Đó là một quan niệm về giá trị: hễ chưa bị bắt thì coi như không cần phải trả.

Vài năm trước, có một phát biểu khiến nhiều người giật mình. Thứ trưởng Thông tin và Truyền thông nói rằng trong mỗi một trăm đồng doanh thu gian lận trên YouTube, có tới năm mươi lăm đồng liên quan người dùng Việt Nam. Tôi không biết phương pháp tính phía sau con số đó tới đâu, và tôi không nghĩ một câu nói có thể đại diện cho cả một dân tộc. Nhưng chỉ riêng việc một quan chức phải nói câu đó trước công chúng đã đủ làm mình thấy khó chịu. Không phải vì người Việt kém hơn ai về bản chất; tôi không tin mấy kiểu kết luận đó. Mà vì chúng ta đã tạo ra một môi trường nơi chuyện lấy nội dung của người khác, dựng lại, cắt lại, phát lại, đổi tên rồi kiếm tiền có thể được xem là lanh lợi. Có người còn khoe kỹ thuật lách hệ thống như khoe một loại tài năng.

Tài năng gì vậy? Tài năng ăn cắp công sức của người khác mà không để lại dấu tay?

Người mua ham rẻ, người bán ham lời

Sẽ không công bằng nếu chỉ trách cứ người mua. Người bán cũng rất giỏi biến sự mập mờ thành một mô hình kinh doanh. Bán một chiếc áo nhái, họ nói là hàng tuồn từ xưởng. Bán một đôi giày giả, họ nói là rep một một. Bán đồ không rõ nguồn gốc, họ nói là hàng tuồn. Bán tài khoản lạ, họ nói là slot chính chủ. Bán thực phẩm không biết ở đâu ra, họ nói là hàng nội địa, hàng làm tại nhà. Cách gọi thay đổi, cảm giác tội lỗi giảm đi. Nghe như một lựa chọn tiêu dùng có gu, có hiểu biết, biết săn hàng tốt. Nhưng rất nhiều lúc, thứ được bán không rẻ hơn vì người bán đầu óc giỏi hơn, công nghệ tốt hơn. Nó chỉ rẻ vì có ai đó đã né một phần chi phí mà người làm ăn tử tế phải gánh lấy.

Thuế, bản quyền, kiểm định, bảo hành, nguồn gốc, điều kiện lao động, rủi ro hàng giả - mấy thứ đó đều là tiền. Khi một người bán hàng né được chúng, họ có giá tốt hơn người làm đúng đắn. Khi người mua chỉ nhìn vào giá, người làm ăn đàng hoàng dần bị đẩy vào thế khó. Rồi cuối cùng mình than sao hàng hoá thật mắc, sao người buôn bán tử tế ít, sao ai cũng tìm cách lươn lẹo.

Người mua thường nói: “Người ta bán. Tôi chỉ mua, tôi đâu biết.” Nhiều khi điều đó đúng. Không phải ai cũng có khả năng tự kiểm tra mọi thứ. Nhưng nhiều khi mình biết lắm chứ. Mình chỉ không muốn biết thêm, vì biết rồi sẽ phải chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình. Của quá rẻ thường có một phần giá bị giấu đi. Câu hỏi là phần giá đó đang nằm trên vai ai. Đó cũng là điều đang xảy ra với rất nhiều hàng hóa ở ngoài đời. Một người mở quán trong mặt bằng đủ rộng, có chỗ để xe, có chi phí đầy đủ, sẽ khó cạnh tranh với người bán tràn ra vỉa hè mà không phải trả tiền cho phần diện tích đang sử dụng. Một người bán phần mềm đúng bản quyền sẽ khó cạnh tranh với người bán bản crack. Một người làm nội dung tử tế sẽ khó cạnh tranh với người cắt clip của người khác, gắn tiêu đề giật gân, chạy quảng cáo và thu tiền.

Chúng ta không chỉ đang mua món hàng rẻ. Nhiều khi chúng ta đang bỏ phiếu cho một tư duy làm ăn: cứ lách được thì lách, cứ giấu được thì giấu, cứ có lợi cho mình trước đã. Và rồi chúng ta ngạc nhiên khi môi trường sống chung trở nên đầy hàng giả, lời hứa giả dối về sản phẩm, đó chẳng phải là do chính chúng ta góp phần tạo nên một môi trường thiếu lành mạnh hay sao?

Vì sao ai cũng muốn có một lối đi riêng?

Tôi không nghĩ câu trả lời đơn giản là người Việt Nam ích kỷ. Nói vậy dễ quá, nhưng không đi tới đâu. Tôi nghĩ một phần vì chúng ta đã sống quá lâu trong cảm giác cái gì cũng thiếu: đường thiếu, chỗ đậu thiếu, trường tốt thiếu, bệnh viện tốt thiếu, việc tốt thiếu, cơ hội tốt thiếu. Khi bạn tin mọi thứ đều khan hiếm, bạn sẽ dễ nghĩ mình phải giành lấy trước khi người khác giành mất.

Một phần vì nhiều quy định ngoài đời không được thực thi đồng đều. Có chỗ làm nghiêm khắc, có chỗ không, hay lúc có lúc không. Có lúc ra quân rầm rộ, vài tuần sau đâu lại vào đó. Có người bị phạt, có người thoát. Khi luật pháp không tạo được cảm giác công bằng và nhất quán, người ta càng có lý do để tin rằng khôn ngoan là biết luồn lách chứ không phải biết tuân theo. Và một phần, phải nói thẳng, vì cái lợi trước mắt quá hấp dẫn. Một chỗ đậu xe, một cái bàn kê thêm, một giờ công nhàn hơn, một món đồ rẻ hơn - những thứ đó có ngay trước mắt. Còn một thành phố dễ đi bộ hơn, một môi trường kinh doanh tử tế hơn, một xã hội có lòng tin hơn, nghe đẹp nhưng không cầm nắm được. Cho nên, nhiều người sẵn sàng giật lấy cái gần, rồi để cái văn minh xa dần.

Tôi hiểu những điều đó. Thiệt tình là hiểu. Nhưng hiểu không có nghĩa là có thể thông cảm. Nếu cái gì cũng đổ lỗi cho hoàn cảnh, cuối cùng sẽ không còn ai chịu trách nhiệm về phần mình. Người ta sẽ nói tại đường kẹt nên phải leo lề, tại tiền khó kiếm nên phải bán hàng lậu, tại ai cũng làm nên mình làm, tại luật không nghiêm nên mình lách, tại người khác không tử tế nên mình cũng không cần tử tế.

Lâu dần, cả xã hội biến thành một cuộc chạy đua xem ai kịp lấy phần của mình trước. Và những người không muốn chạy theo kiểu đó thì sao? Họ thành người chậm chạp. Họ thành người không biết sống "khôn". Họ thành người bị chê là cứng nhắc. Tôi không muốn một đứa nhỏ lớn lên rồi học được rằng tuân thủ luật là ngu. Tôi cũng không muốn một người tử tế phải luôn mang cảm giác mình là người duy nhất chịu thiệt. Nếu một xã hội khiến người ta xấu hổ vì làm điều đúng, còn thấy tự hào vì biết lách, thì xã hội đó có vấn đề rất nặng nề.

Không có hoá đơn nào gửi đến tôi

Có lẽ vấn đề lớn nhất của những đặc quyền tự phong là chúng không bao giờ gửi hóa đơn về đúng địa chỉ. Bạn lấn vỉa hè, hóa đơn tới người đi bộ. Bạn leo lề, hóa đơn tới người già đang qua đường. Bạn quỵt giờ làm, hóa đơn tới đồng nghiệp. Bạn mua một tài khoản rẻ bất thường, hóa đơn có thể tới người bị mất thẻ. Bạn mua hàng không rõ nguồn, hóa đơn tới người làm đúng và không cạnh tranh nổi. Bạn hứa rồi không làm, hóa đơn tới lòng tin của người khác. Bạn chen lên trước, hóa đơn tới người đứng sau. Bạn xả rác, hóa đơn tới người dọn rác và tới chính thành phố mà bạn cũng đang sống trong đó.

Nhiều hóa đơn nhỏ quá, nên không ai thấy mình là thủ phạm. Nhưng cộng chúng lại, chúng ta có một thành phố bừa bộn hơn, hung hăng hơn, ít tin nhau hơn, và mệt mỏi hơn rất nhiều so với mức đáng lẽ phải có. Rồi một ngày, chính mình cũng trở thành người phải trả giá. Bạn đang đi bộ và bị xe máy ép xuống lòng đường. Bạn mua một món hàng không rõ nguồn rồi bị lừa vì hàng kém chất lượng. Bạn làm việc tử tế nhưng phải gánh phần của người khác. Bạn cần một người giữ lời thì họ biến mất. Bạn muốn xếp hàng đúng lượt thì thấy người khác chen ngang.

Đó là cái cay nhất. Những đặc quyền mình tự cấp hôm nay có thể quay lại thành sự bất công mà mình ghét ngày mai.

Tôi không có ảo tưởng rằng chỉ cần vài bài viết là người ta sẽ tự dưng trả lại vỉa hè, bỏ chạy ngược chiều, ngưng coi lậu, trả hết những khoản nợ cũ, hay sống tử tế với nhau hơn. Mấy chuyện đó không dễ vậy. Nó liên quan tới luật pháp, cách quản lý, cách thành phố được thiết kế, cách người ta làm ăn, và rất nhiều thứ lớn hơn một cá nhân nhiều. Nhưng cá nhân vẫn là chỗ mọi chuyện bắt đầu.

Không phải bằng những lời thề lớn lao. Chỉ là một khoảnh khắc dừng lại trước khi mình làm điều có lợi cho mình. Tôi đang lấy gì? Ai đang phải chịu phần giá đó? Nếu người chịu thiệt đứng ngay trước mặt tôi, tôi còn làm vậy không?

Tôi chắc chắn cũng không hoàn hảo. Tôi sống trong thành phố này, hưởng vô số cái tiện ích do người khác tạo ra, và có lẽ cũng từng vô tình đẩy cái bất tiện sang ai đó mà không biết. Nhưng ít nhất, mình có thể tập luyện để bắt đầu tự thấy ngượng trở lại. Ngượng khi chiếm một lối đi không phải của mình. Ngượng khi chen lên trước người khác. Ngượng khi gọi một món hàng mờ ám là deal ngon. Ngượng khi bắt người khác gánh phần việc mình bỏ lại. Ngượng khi đòi hỏi xã hội tử tế với mình, nhưng lại luôn tìm cách xin một ngoại lệ cho bản thân.

Có lẽ văn minh không bắt đầu từ những khẩu hiệu lớn. Nó bắt đầu từ lúc một người đứng trước một phần lợi nhỏ và tự nói: phần này không phải của mình, mình không nên "khôn lõi" như vậy.

Ở Sài Gòn, điều đó có thể bắt đầu bằng khoảng vỉa hè trước cửa nhà.

Rồi có thể đi xa hơn một chút.


Ghi chú nguồn cho đoạn về YouTube: phát biểu của Thứ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Thanh Lâm tại hội thảo năm 2023 được tường thuật bởi VnExpress. Con số này nên được hiểu là phát biểu của cơ quan quản lý trong bối cảnh cụ thể, không phải một bảng xếp hạng học thuật đại diện cho tất cả người Việt.