· 7.116 chữ · 36 phút đọc ·

Nếu cửa kính không bị vỡ thì người thợ làm bánh đã có thể dùng số tiền đó vào việc gì?

Một thằng nhóc cầm cục gạch chọi thẳng vào cửa kính tiệm bánh. Kính vỡ toang. Ông chủ tiệm chạy ra chửi um sùm nhưng thằng nhóc đã chạy mất dạng từ đời nào. Người đi đường xúm lại coi, chép miệng tiếc cho ông thợ bánh tự nhiên vô cớ mất một mớ tiền thay kính.

Rồi có ai đó trong đám đông lên tiếng an ủi. Ông này bảo âu cũng là cái rủi có cái may, kính vỡ thì ông thợ làm kính mới có việc mà làm. Nghe câu đó thiên hạ bắt đầu gật gù. Người ta tính nhẩm trong đầu: thay tấm kính này tốn chừng năm chục đô, năm chục đô đó chui thẳng vào túi ông thợ kính, chiều nay ông thợ kính cầm tiền ra chợ mua thịt, người bán thịt lại cầm tiền đó đi may áo, cứ vậy dòng tiền chảy vòng vòng không ngừng. Đám đông chốt lại với nhau: thằng nhóc phá cửa kính không phải đứa phá làng phá xóm, nó vừa vô tình bơm máu cho cả một dây chuyền làm ăn chứ đâu giỡn.

Câu chuyện cửa kính vỡ này không phải do Henry Hazlitt bịa ra. Một ông người Pháp tên Frédéric Bastiat đã kể gần y chang vậy trong một bài tiểu luận in năm 1850, cái tên bài đại khái là Cái Thấy Được Và Cái Không Thấy Được. Gần một trăm năm sau, Hazlitt, một nhà báo Mỹ chuyên viết mảng tài chính cho New York Times và vài tờ khác, lấy lại đúng tinh thần đó, đặt vào bối cảnh nước Mỹ hậu Thế Chiến Hai, viết thành cuốn Economics in One Lesson, in năm 1946. Ông này không phải dân hàn lâm ngồi tháp ngà viết cho nhau đọc. Ông chịu ảnh hưởng khá nặng từ Ludwig von Mises, sau này còn dịch sách của Mises qua tiếng Anh, nên giọng văn trong sách vừa có chất báo chí bình dân vừa có khung lý luận đàng hoàng phía sau. Tôi đọc đi đọc lại cuốn này vài lần rồi, lần nào cũng thấy nó ngắn gọn một cách triệt để, có mấy trăm trang mà đủ sức dựng lại toàn bộ cách tư duy về chính sách kinh tế.

Bastiat viết đúng bài tiểu luận đó giữa năm 1850, mấy tháng trước khi ông qua đời vì bạo bệnh, năm bốn mươi chín tuổi. Cả đời ông không được giới hàn lâm Pháp coi trọng lắm, vì viết quá dễ hiểu, quá đời thường, trong khi kinh tế học thời đó đang cố tự biến mình thành một môn khoa học nghiêm túc đầy công thức. Hazlitt sau này cũng lãnh chung số phận, giới học thuật ở mấy trường lớn gần như lờ Economics in One Lesson đi, xếp nó vào loại sách phổ thông không đủ hàn lâm, dù nó bán hơn một triệu bản và tới giờ vẫn được in lại đều đều. Hazlitt còn từng cộng tác lâu năm với National Review của William F. Buckley, viết cột tài chính cho Wall Street Journal và Newsweek suốt nhiều năm. Cái mỉa mai là hai cuốn sách viết dễ hiểu nhất về kinh tế học thị trường tự do lại là hai cuốn hay bị chê thiếu tính học thuật nhất.

Quay lại chuyện cửa kính. Chỗ đám đông tính sai nằm ở chỗ họ chỉ nhìn thấy một nửa câu chuyện. Năm chục đô ông thợ làm bánh đem trả cho thợ kính không phải tiền trên trời rớt xuống. Đó là tiền ông dành dụm, định bụng chiều nay ghé tiệm may sắm cho mình bộ đồ mới. Cửa kính vỡ đẩy ông vào thế phải cắt khoản đó qua vá cái lỗ trên cửa tiệm. Vậy là buổi chiều hôm đó, thay vì có thêm một bộ suit mới ra đời và một ô cửa kính nguyên vẹn, nền kinh tế chỉ còn giữ lại đúng một ô cửa kính. Ông thợ may mất đứt một khách hàng, mất đứt năm chục đô lẽ ra ông có được. Dòng tiền chảy vào túi ông thợ kính mà đám đông đang xuýt xoa, xét cho cùng chỉ là dòng tiền bị chuyển hướng khỏi tiệm may. Của cải chung của xã hội không hề sinh sôi thêm đồng nào, ngược lại còn hao đi đúng bằng giá trị một ô cửa kính. Cái khiến đám đông tính lộn là họ chỉ chăm chăm vào những gì hiện ngay trước mắt. Ông thợ kính, tấm kính mới, đó là những thứ sờ được. Còn bộ suit chưa bao giờ được may, khoản thu nhập ông thợ may lẽ ra có, những thứ đó vô hình, chưa kịp thành hình nên chẳng ai để ý. Hazlitt gói cả cuốn sách vào đúng một câu: muốn hiểu kinh tế cho tới nơi tới chốn thì không được dừng ở tác động trước mắt lên một nhóm người, mà phải theo tới cùng hậu quả dài hơi lên tất cả mọi người. Cứ cầm cái lăng kính này soi vào bất kỳ chính sách nào, mọi thứ nó sẽ phơi bày ra hết.

Bom đạn, cầu đường và ông thợ may bị lãng quên lần thứ hai

Sau chiến tranh hay sau thiên tai lớn, kiểu gì cũng có người đứng ra tán tụng cái gọi là phước lành trong đổ nát. Sau trận động đất Kobe năm 1995 hay sau bão Katrina đổ vào New Orleans năm 2005, đã có không ít bài phân tích tính toán rằng GDP sẽ được đẩy lên nhờ công cuộc dựng lại nhà cửa, đường sá. Logic nghe qua na ná chuyện cửa kính: thành phố tan hoang thì công nhân xây dựng có việc, nhà máy xi măng sắt thép chạy hết công suất, cả nền kinh tế bận rộn hẳn lên.

Đem đúng cái lăng kính cửa kính vỡ ra soi thì thấy ngay chỗ trật lất. Xây lại một căn nhà bị bom đánh sập tốn không ít tiền của. Khoản tiền đó đáng lẽ được dùng để làm ra những thứ mới, nâng chất lượng sống lên một bậc, giờ chỉ đủ khôi phục lại đúng những gì đã mất, coi như huề vốn. Sự tàn phá không tạo thêm sức mua, nó chỉ đổi hướng dòng tiền. Nhà máy xi măng ăn nên làm ra thì thấy rõ, còn những ngành khác đang teo tóp dần vì túi tiền dân chúng đã dốc hết cho việc xây nhà thì chẳng ai buồn nhìn tới. Một người mất sạch nhà cửa có nhu cầu ở rất lớn, nhưng sức mua của người đó đã bị chiến tranh vắt cho khô rồi. Cái người ta hay gọi là phép màu phục hồi kinh tế hậu chiến, nhìn kỹ chỉ là một quá trình đổ mồ hôi sôi nước mắt để bù lại khối tài sản đã bốc hơi, không hơn không kém.

Chuyện công trình công cộng vận hành y chang vậy, chỉ khác là không cần bom đạn, chỉ cần một cây bút ký duyệt ngân sách. Kinh tế hơi chững lại một chút là thế nào cũng có đề xuất nhà nước bỏ tiền làm đường, xây cầu, dựng đập thủy điện, với lý do tạo công ăn việc làm. Cây cầu vắt ngang sông, hàng ngàn công nhân đang đổ bê tông, chính trị gia đứng cắt băng khánh thành nói về số việc làm đã mang lại cho dân, tất cả những cảnh đó đập ngay vào mắt. Tiền xây cầu từ đâu ra thì ít ai chịu hỏi tới. Chắc chắn nó phải đến từ thuế hoặc là tiền vay mượn, thậm chí là viện trợ. Giả sử cây cầu tốn một ngàn tỷ, nghĩa là một ngàn tỷ đã bị rút khỏi túi người đóng thuế. Không có khoản thuế đó, số tiền này đã chảy vào mua sắm, sửa xe, hay đầu tư làm ăn riêng của từng người. Có cây cầu đứng đó đồng nghĩa có hàng ngàn cái tivi không được sản xuất, hàng ngàn bộ đồ không được may, và vô số việc làm ở những ngành đó chưa bao giờ kịp sinh ra. Cái trớ trêu là thiên hạ chỉ thấy cây cầu với những người công nhân xây cầu, chẳng ai thấy được mấy cái tivi bị bóp chết từ trong trứng nước hay ông thợ may lần thứ hai bị lấy mất khách. Nếu cây cầu đó thật sự cần cho giao thông, mang lại lợi ích vượt xa chi phí bỏ ra, thì xây là chuyện chính đáng. Còn nếu xây chỉ để có cái mà khoe là đã tạo việc làm, thì đó đích thị là một cách đốt tiền khá tinh vi, chỉ được gói ghém lại bằng ngôn ngữ đẹp đẽ hơn.

Chương trình cash for clunkers ở Mỹ năm 2009 là một phiên bản hiện đại của chính cái cửa kính vỡ này, chỉ khác là lần này chính phủ chủ động đập kính thay vì chờ thằng nhóc nào ra tay. Chính phủ trả tiền cho dân chúng đem xe cũ tới đập bỏ, đổi lấy phiếu giảm giá mua xe mới, lý do đưa ra vừa kích cầu ngành ô tô đang hấp hối sau khủng hoảng tài chính, vừa giảm khí thải. Doanh số xe mới nhích lên thấy rõ trong mấy tháng chương trình chạy, báo chí khen nức nở. Nhưng hàng trăm ngàn chiếc xe cũ vẫn còn dùng tốt bị nghiền nát, động cơ bị đổ hóa chất cho hỏng hẳn để không ai tháo ra bán lại, thị trường xe cũ giá rẻ dành cho người thu nhập thấp bị thu hẹp đột ngột, giá xe cũ còn lại tăng vọt. Số tiền dân dùng mua xe mới đó, nếu không có chương trình này, phần lớn cũng sẽ được chi tiêu ở đâu đó khác trong nền kinh tế, chỉ là chẳng ai quay phim cảnh đó để đưa lên bản tin mà thôi.

Nhật Bản là ví dụ hay ho không kém. Suốt thập niên chín mươi, sau khi bong bóng bất động sản vỡ, chính phủ Nhật bơm hàng loạt gói kích cầu vào công trình công cộng, xây đường, xây đập, đổ bê tông cả những con sông ở vùng núi gần như không ai qua lại. Có những cây cầu to đùng nối tới những hòn đảo chỉ vài trăm dân sinh sống. Số việc làm tạo ra thì có thật, số bê tông đổ xuống cũng có thật, nhưng nền kinh tế Nhật vẫn trì trệ kéo dài gần cả thập kỷ sau đó, người ta gọi giai đoạn này là thập kỷ mất mát. Tiền đổ vào bê tông là tiền không còn cơ hội chảy vào nghiên cứu, vào giáo dục, vào những ngành có thể kéo năng suất đi lên thật sự.

Tôi để ý mấy năm gần đây ở Việt Nam cũng rần rần chuyện đầu tư công, cao tốc Bắc Nam, sân bay Long Thành, hết dự án này tới dự án khác được xướng lên như đòn bẩy tăng trưởng. Tôi không phản đối chuyện làm hạ tầng, hạ tầng tốt là cái nền để cả nền kinh tế đi lên thật. Nhưng cứ mỗi lần nghe ai đó lấy con số giải ngân đầu tư công ra làm bằng chứng cho sự phát triển, tôi lại nhớ tới ông thợ may. Câu hỏi hay nhất đâu phải là bao nhiêu tiền đã giải ngân, mà là cây cầu đó, con đường đó tạo ra giá trị lớn hơn hay nhỏ hơn những gì đã bị lấy đi từ túi người dân. Trả lời được câu đó mới tính là kinh tế học tử tế, còn không thì chỉ là đếm xi măng và khoe tiến độ.

Tín dụng nhà nước và cái máy dệt

Đi kèm mấy dự án công là chuyện tín dụng ưu đãi. Hazlitt mổ cái này khá kỹ. Thỉnh thoảng nhà nước tung ra gói vay lãi suất thấp cho nông dân không đủ điều kiện vay ngân hàng, hoặc doanh nghiệp đang hấp hối bên bờ vực phá sản. Lý lẽ đưa ra luôn là ngân hàng tư nhân máu lạnh quá, chỉ biết nhìn vào lợi nhuận, nên nhà nước phải ra tay đỡ lấy người yếu thế.

Một khoản vay là chuyện chuyển quyền sử dụng một lượng tài sản có thật từ người này qua người khác, chứ chẳng phải một xấp giấy vô tri từ trên trời rớt xuống. Người nông dân vay tiền mua máy cày, cái máy cày đó nằm sẵn trong kho của nhà sản xuất, có hạn định, đếm được. Nông dân A được vay ưu đãi rinh cái máy cày đó về thì nông dân B ở kế bên sẽ không mua được nó nữa, dù B có sẵn tiền mặt trong túi.

Câu hỏi đáng ra phải đặt trước tiên là tại sao ngân hàng tư nhân từ chối cho nông dân A vay. Ngân hàng sống bằng nghề cho vay, họ khát khách vay lắm chứ chẳng chê ai bao giờ. Từ chối chỉ có một lý do, là họ đánh giá người đó làm ăn kém hoặc khả năng trả nợ mong manh. Ngân hàng cầm tiền của người gửi tiết kiệm nên buộc phải chọn mặt gửi vàng, giao vốn cho ai có khả năng sinh lời cao nhất. Nhà nước nhảy vào bảo lãnh cho những khoản vay rủi ro cao bằng tiền thuế, thực chất đang rút vốn từ tay người làm ăn giỏi đưa qua tay người làm ăn dở. Tổng lượng tư bản trong một nền kinh tế ở một thời điểm là hữu hạn, chính sách này không đẻ thêm được cái máy cày nào cả, nó chỉ làm giảm hiệu suất sử dụng số máy cày đang có. Năng suất chung tụt xuống, còn thiên hạ thì chỉ thấy ông nông dân A đang chạy máy cày mới cáu, chẳng ai để ý ông nông dân giỏi bị từ chối vì nguồn vốn đã cạn.

Chuyện chống máy móc thì tôi thấy còn dai dẳng hơn cả chuyện tín dụng. Từ hồi cách mạng công nghiệp cho tới bây giờ là thời của trí tuệ nhân tạo, nỗi sợ máy móc cướp cơm chưa bao giờ nguội. Ngày xưa thợ dệt đập phá máy dệt hơi nước vì thấy rõ một cái máy làm được việc của hàng chục người. Bây giờ dân văn phòng lo phần mềm tự động hóa với mấy con chatbot sẽ đẩy họ ra đường. Tôi có nhiều người bạn làm về công nghệ, tuần nào cũng nghe qua vài lần chuyện ngành này ngành kia sắp bị AI thay thế sạch, ai cũng có một câu chuyện về đứa bạn mới bị công ty cắt hợp đồng vì thay bằng công cụ tự động. Tôi cũng đọc đủ thứ dự báo là vài năm tới phân nửa việc văn phòng sẽ biến mất. Tôi không tin con số đó, nhưng tôi tin chắc cơ cấu việc làm sẽ đổi khác, có ngành co lại, có ngành phình ra mà bây giờ chưa ai đặt tên được, giống hệt hồi máy dệt hơi nước xuất hiện chẳng ai tưởng tượng nổi sau này sẽ có nghề thiết kế web hay vận hành trung tâm dữ liệu. Nỗi lo mất việc không phải vô căn cứ, nhưng lập luận của phe chống công nghệ luôn xoay quanh nạn nhân sờ thấy được, chỉ tay vào người bị sa thải rồi đổ hết tội cho cái máy hay công nghệ mới.

Chuyện tín dụng nhà nước ưu ái ngành này ngành kia thì nhìn sang Trung Quốc mấy chục năm gần đây là thấy rõ nhất. Ngân hàng quốc doanh cho vay ưu đãi ồ ạt vào ngành thép, ngành pin mặt trời, ngành xe điện, sản lượng phình to vượt xa nhu cầu nội địa, hàng dư thừa tràn ra thị trường thế giới với giá rẻ mạt, kéo theo hàng loạt tranh chấp thương mại với Mỹ và châu Âu. Bên trong thì không ít nhà máy thép, nhà máy pin chạy dưới công suất, sống nhờ vốn vay rẻ chứ không nhờ hiệu quả kinh doanh thật. Vốn đáng lẽ chảy vào những ngành có năng suất cao hơn thì bị khóa cứng trong những ngành được ưu ái vì lý do chính trị hơn là lý do kinh tế.

Soi qua lăng kính cửa kính vỡ thì câu chuyện đổi khác hẳn. Một xưởng dệt mua máy mới vì máy giúp giảm chi phí. Giả sử nửa số công nhân bị cho nghỉ, đó là cái ai cũng thấy và xót. Nhưng ông chủ xưởng giờ dư ra một khoản tiền lớn nhờ cắt quỹ lương, tăng năng suất. Khoản dư đó không bốc hơi đi đâu, nó buộc phải đi theo một trong ba hướng. Hướng thứ nhất, ông chủ dùng tiền lời mở rộng xưởng, mua thêm máy, tạo việc cho kỹ sư chế tạo máy và thợ lắp ráp. Hướng thứ hai, ông đem tiền đi tiêu xài riêng, sắm xe, xây nhà, tiền lại chảy vào túi người bán xe, thợ xây. Hướng thứ ba, phổ biến nhất trong một thị trường có cạnh tranh, ông buộc phải hạ giá bán để không bị đối thủ giành mất khách. Người mua áo trước kia trả một trăm đô giờ chỉ tốn bảy chục, ba chục đô dư ra trong túi người tiêu dùng lại chảy đi mua đôi giày mới hay dẫn cả nhà đi ăn tiệm. Cái máy dệt không làm tổng số việc làm trong nền kinh tế giảm đi, nó chuyển việc từ xưởng dệt qua xưởng giày hay nhà hàng, và quan trọng hơn, nó làm cả xã hội giàu lên vì ai cũng mặc áo với giá rẻ hơn.

Nếu tư duy sợ máy móc mà đúng, chắc giờ này nhân loại vẫn còn cầm cuốc đào đất, vì xe cuốc đã cướp việc của biết bao nhiêu phu đào đất. Cái tư duy này vẫn sống dai dẳng nhờ khoác lên mình những cái áo mới. Có dạo người ta đòi giảm giờ làm chuẩn từ bốn mươi xuống ba mươi tiếng một tuần mà vẫn giữ nguyên lương, lý do là mỗi người làm ít lại thì dư ra việc để thuê thêm người thất nghiệp. Nghe thì có vẻ có tình có lý nhưng sai bét về mặt kinh tế. Ép doanh nghiệp trả cùng một mức lương cho ít giờ làm hơn là ép họ gánh thêm chi phí. Doanh nghiệp bù đắp bằng cách tăng giá bán hoặc cắt lợi nhuận tái đầu tư, tăng giá thì người tiêu dùng è cổ chịu, sức mua chung giảm, doanh nghiệp lại phải thu hẹp sản xuất, vòng lặp quay lại đúng chỗ ban đầu là sa thải bớt người. Công việc sinh ra từ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng thật của xã hội. Cái bánh đó phình to nhờ năng suất tăng lên, muốn có thêm phần cho nhiều người hơn thì phải làm cho cái bánh lớn ra, xắn nhỏ cái bánh cũ chia đều chỉ khiến ai cũng đói hơn mà thôi.

Thuế quan và bức tường giá

Ngành nào đó trong nước hễ thấy đuối sức trước hàng nhập khẩu giá rẻ là y như rằng có tiếng kêu đòi chính phủ dựng hàng rào thuế quan bảo hộ. Ví dụ kinh điển nhất trong lịch sử có lẽ là đạo luật Smoot Hawley năm 1930 của Mỹ, đánh thuế lên hàng ngàn mặt hàng nhập khẩu để cứu công nghiệp trong nước giữa lúc kinh tế đang suy thoái. Kết quả các nước khác trả đũa, thương mại toàn cầu co rúm lại, nhiều sử gia kinh tế xem đây là một trong những nước cờ góp phần kéo dài cuộc Đại Suy Thoái thay vì cứu lấy nó.

Lấy ví dụ áo len cho dễ hình dung. Áo len nhập khẩu sản xuất công nghệ cao, số lượng lớn, giá tới tay người mua chỉ bằng nửa áo len nội. Các ông chủ xưởng len trong nước chạy vạy vận động hành lang, than thở nếu không đánh thuế hàng ngoại thì hàng ngàn công nhân sẽ mất việc, vẽ ra viễn cảnh sụp đổ của cả một ngành truyền thống. Chính phủ gật đầu, luật thuế quan ra đời.

Người tiêu dùng đáng lẽ mua được áo len năm chục đô giờ è cổ trả một trăm đô cho áo nội chất lượng kém hơn. Năm chục đô chênh lệch đó chính là một khoản thuế trá hình mà cả xã hội gánh thay cho một ngành làm ăn kém hiệu quả. Thiên hạ lại bị cái nhà máy len sáng đèn làm lóa mắt, chẳng ai nhìn ra những ngành khác đang teo tóp vì túi tiền người tiêu dùng đã cạn sau vụ mua áo len. Năm chục đô bị lấy đi đó lẽ ra dùng mua trái cây hay đóng học phí cho con, khiến ngành trái cây và ngành giáo dục sụt doanh thu một cách hết sức oan uổng, dù họ chẳng dính dáng gì tới chuyện áo len cả.

Thuế quan còn giết ngược lại chính ngành xuất khẩu của chính đất nước đặt ra nó. Chặn hàng nhập khẩu cũng là chặn luôn nguồn ngoại tệ mà nước ngoài có để mua hàng của mình. Họ không bán được áo len cho mình thì lấy đâu tiền mua cà phê, gạo của nông dân mình trồng. Một quốc gia dựng hàng rào bảo hộ thực chất đang tự trói tay, phạt những ngành làm ăn giỏi nhất để nuôi những ngành làm ăn dở nhất. Càng bảo hộ nhiều, cả nền kinh tế càng nghèo thêm.

Chuyện này không chỉ nằm trong sách sử. Đợt chiến tranh thương mại Mỹ Trung khởi động từ năm 2018, với hàng loạt vòng áp thuế qua lại giữa hai nước, cũng đi theo đúng kịch bản cũ. Người tiêu dùng Mỹ trả giá cao hơn cho hàng điện tử, đồ gia dụng, trong khi nông dân Mỹ trồng đậu nành mất luôn một phần thị trường Trung Quốc, phải sống nhờ trợ cấp bù đắp trích từ chính ngân sách liên bang. Một nhóm ngành được che chắn, một nhóm ngành khác âm thầm trả giá, đúng bài học Hazlitt viết từ bảy mươi mấy năm trước lặp lại gần như nguyên xi.

Chính sách bình ổn giá cũng đi theo nguyên lý y hệt, chỉ khác cách chúng ra tay. Nông nghiệp hay có trò đặt giá sàn để nông dân không lỗ khi trúng mùa rớt giá, gọi cho hay là mức giá công bằng. Giá lúa thị trường tự do rớt thấp, nhà nước nhảy vào mua gom với giá sàn cao hơn để giữ thu nhập cho nông dân. Nông dân trồng lúa mừng ra mặt, nhưng khoản tiền chênh lệch đó cũng móc từ túi người đóng thuế. Giữ giá nông sản cao giả tạo còn khuyến khích nông dân đổ xô trồng đúng loại cây đó bất kể thị trường đã bão hòa, kho nhà nước phình to chứa đầy lúa gạo ế, trong khi đất đai, nhân công, phân bón lẽ ra chuyển qua trồng thứ khác đang thiếu hụt thì bị khóa cứng vào việc làm ra thứ dư thừa. Giá nội địa cao ngất còn làm nông sản mất sạch sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, chẳng khách nước ngoài nào mua giá cao khi có nơi khác bán rẻ hơn, thế là lại phải trợ cấp xuất khẩu để bán tống bán tháo, một sai lầm nối tiếp sai lầm chỉ vì cố tình bẻ cong hệ thống giá cả.

Giá cả trên thị trường tự do là tín hiệu sống, báo cho mọi người biết xã hội đang thiếu gì thừa gì. Hàng khan hiếm thì giá tăng, giá tăng kéo nhà sản xuất đổ vào làm, cung tăng dần kéo giá về lại mức cân bằng. Hàng dư thừa thì giá giảm, báo hiệu nhà sản xuất phải thu hẹp hoặc chuyển hướng. Việc này chạy như một hệ thần kinh, phân bổ nguồn lực khắp xã hội mà không cần một ủy ban kế hoạch nào ngồi chỉ tay năm ngón. Các chính trị gia lại rất khoái phá cái hệ thần kinh này bằng một tờ giấy có dấu đỏ. Giá một món hàng thiết yếu tăng cao, dân tình la ó, chính quyền ra sắc lệnh cấm bán vượt một mức giá quy định, cứ như chỉ cần đóng con dấu là quy luật cung cầu tự động cúi đầu. Hậu quả tức thì là khan hàng. Giá bị ép thấp hơn giá thị trường, người mua có xu hướng mua nhiều hơn mức cần vì thấy rẻ, người bán bị bóp lợi nhuận nên giảm sản lượng hoặc nghỉ bán luôn. Cầu tăng, cung giảm, hàng dài người xếp hàng chờ mua y như thời bao cấp ở Việt Nam trước Đổi Mới, hàng thiết yếu biến khỏi kệ rồi trồi lên chợ đen với giá gấp mấy lần giá cũ. Venezuela những năm gần đây cũng là một ca kinh điển, giá trần áp lên hàng loạt nhu yếu phẩm khiến kệ siêu thị trống trơn trong khi chợ đen sống khỏe re. Chính sách định ra để bảo vệ người tiêu dùng cuối cùng đẩy chính họ vào cảnh khan hiếm và làm giàu cho đầu cơ.

Kiểm soát giá thuê nhà là một dạng giá trần có sức phá khá âm ỉ. Chính quyền đô thị thấy giá thuê leo thang bèn ra luật khống chế mức giá cho thuê để người thu nhập thấp còn trụ lại được trong thành phố. Ngắn hạn thì người đang thuê nhà thở phào, không bị đuổi ra đường. Nhưng chủ nhà thấy tiền thu về bị đóng băng thì ngừng luôn việc bảo trì, cái vòi nước rỉ hay bức tường tróc sơn chẳng ai buồn sửa nữa, tòa nhà xuống cấp dần thành khu ổ chuột. Tệ hơn, chẳng nhà đầu tư nào dại gì bỏ tiền xây thêm chung cư mới khi biên lợi nhuận bị nhà nước khóa cứng, vốn đầu tư chạy sang lĩnh vực khác sinh lời cao hơn và ít bị soi hơn. Dân số đô thị vẫn tăng đều mỗi năm trong khi nguồn cung nhà ở giậm chân tại chỗ, người mới tới thành phố hay cặp vợ chồng trẻ mới cưới không tìm nổi chỗ ở dù sẵn sàng trả giá cao. Chính sách kiểm soát tiền thuê nhà phá nát thị trường bất động sản mà chẳng cần tới quả bom nào, bảo vệ đúng một nhóm nhỏ đang có sẵn chỗ ở, còn bóp nghẹt tương lai của tất cả những người còn lại.

New York hay San Francisco là hai ca hay được đem ra mổ xẻ nhất. Mấy khu có kiểm soát giá thuê lâu năm ở New York vẫn tồn tại những căn hộ giá rẻ bất thường nằm cạnh những tòa nhà mới toanh giá trên trời, một thị trường nhà ở bị chia làm hai tầng tách biệt hẳn nhau, người may mắn giữ được hợp đồng cũ thì sống khỏe re qua nhiều chục năm, người mới tới thành phố thì è cổ trả giá thị trường tự do cho phần còn lại vốn đã bị siết nguồn cung từ trước.

Lương tối thiểu và quyền lực công đoàn

Chuyện lương tối thiểu chắc đụng chạm tới nhiều người đọc nhất trong bài này. Ai nghe nâng lương tối thiểu cũng vỗ tay vì nghĩ chính sách này che chở cho tầng lớp lao động thấp bé nhất. Cấm doanh nghiệp trả lương dưới một mức nào đó nghe đầy tính người, chẳng ai muốn thấy công nhân cày cuốc cả ngày mà không đủ tiền một bữa cơm tử tế.

Tiền lương xét cho cùng phản ánh năng suất lao động thật của một người. Giả sử luật quy định lương tối thiểu hai chục đô một giờ. Với công nhân tạo ra giá trị hai lăm hay ba chục đô một giờ thì chẳng vấn đề gì, họ vốn dĩ đã kiếm nhiều hơn mức đó. Nhưng một thanh niên mới vào nghề, một người lao động chân tay chậm chạp, hay một người lao động khuyết tật chỉ tạo ra được giá trị mười lăm đô một giờ thì sao. Doanh nghiệp không phải hội từ thiện, chẳng ông chủ nào chịu trả hai chục đô để đổi lấy mười lăm đô giá trị. Gồng được một thời gian ngắn rồi bài toán chi phí cũng ép họ phải quyết.

Người lao động yếu thế nhất là người bị cho nghỉ trước tiên. Chính sách vốn định giúp đỡ họ lại đẩy họ ra rìa, tước luôn cơ hội kiếm tiền chân chính. Thà nhận mười lăm đô một giờ để từ đó tích lũy kỹ năng, tiến thân dần, còn hơn nhận con số không tròn trĩnh rồi ngửa tay sống nhờ trợ cấp thất nghiệp. Chính phủ không có phép màu nào làm năng lực một người tăng lên chỉ bằng cách cấm người khác trả lương thấp cho họ, cái duy nhất chính phủ làm được là cấm người đó có việc làm. Đây là một mặt rất tàn nhẫn của kinh tế học, tôi thấy ít người dám nhìn thẳng vào nó vì sợ mang tiếng vô cảm, người ta cứ thích ru nhau bằng những lời kêu gọi đạo đức suông trong khi quy luật cung cầu vẫn chạy máu lạnh phía sau. Người mất việc vì không đạt chuẩn lương tối thiểu trở thành gánh nặng của hệ thống phúc lợi, tiền nuôi họ lại trích từ thuế của người đang đi làm, sức ép thuế khóa kìm hãm doanh nghiệp, vòng xoáy cứ vậy kéo mọi thứ đi xuống.

Tôi biết có nghiên cứu phản biện lại chuyện này, nổi tiếng nhất là công trình của hai ông David Card và Alan Krueger đầu thập niên chín mươi, so sánh các tiệm thức ăn nhanh ở New Jersey và Pennsylvania sau khi New Jersey tăng lương tối thiểu, kết quả không thấy việc làm giảm rõ rệt như lý thuyết cổ điển dự đoán. Công trình đó sau này góp phần cho ông Card đoạt giải Nobel kinh tế. Tôi đọc thấy có lý, nhưng cũng thấy giới hạn của nó nằm ở chỗ nghiên cứu đo trong một khoảng tăng khá nhỏ, ở một thị trường lao động đang khỏe mạnh. Mức tăng nhỏ cho ra tác động nhỏ, chuyện đó không có nghĩa mức tăng lớn hay tăng liên tục trong một nền kinh tế đang yếu cũng cho ra kết quả tương tự. Kinh tế học không phải một định luật vật lý áp dụng y chang ở mọi liều lượng, và đây tôi nghĩ là chỗ mà cả hai phe cực đoan, phe đòi bỏ hẳn lương tối thiểu và phe đòi tăng vô tội vạ, đều hơi chủ quan.

Cứ mỗi mùa bầu cử ở bất kỳ nước nào, hết bên này qua bên kia lại đem lương tối thiểu ra làm quân cờ, phe nào hứa tăng nhiều hơn nghe có vẻ thương dân hơn. Tôi thấy buồn cười ở chỗ hiếm khi nào các cuộc tranh luận đó chịu ngồi lại phân biệt cho rõ tăng bao nhiêu, ở đâu, cho ngành nào, tốc độ tăng ra sao so với năng suất thực của cả nền kinh tế. Người ta thích những con số tròn trĩnh, thích những khẩu hiệu ngắn, ghét những câu trả lời có chữ tùy đi kèm. Kinh tế học gần như lúc nào câu trả lời đúng cũng có chữ tùy đi kèm, chỉ tiếc là chữ tùy đó không hợp để in lên áp phích vận động tranh cử.

Công đoàn cũng vướng một cái bẫy tương tự dù nghe có vẻ đáng yêu hơn. Người ta hay tin công đoàn là vị cứu tinh giành giật lương cao và điều kiện làm việc tốt hơn cho công nhân từ tay giới chủ bóc lột. Công đoàn có vai trò thật, bảo vệ những quyền lợi chính đáng, nhưng quyền lực của họ có trần. Nếu một công đoàn dùng đình công ép công ty trả lương cao vượt xa năng suất thực của cả ngành, kết quả thường thảm hơn cả không đình công. Công ty đội chi phí sản xuất lên, buộc tăng giá bán để giữ biên lợi nhuận, người tiêu dùng quay lưng tìm hàng thay thế rẻ hơn hoặc hàng nhập khẩu, doanh số sụt, công ty thu hẹp, đóng bớt nhà máy, sa thải đúng những người vừa được tăng lương, xấu nhất là phá sản luôn cả công ty. Mấy nghiệp đoàn hiếu chiến hay khoe cái hợp đồng béo bở vừa ký được, nhưng chẳng bao giờ nhắc tới đám công nhân mất việc vĩnh viễn vì ngành đó hết sức cạnh tranh. Lương người lao động về dài hạn không do đình công hay thương lượng quyết định, nó phụ thuộc vào năng suất, mà năng suất chỉ tăng nhờ đầu tư máy móc và cải tiến công nghệ, không có đường tắt nào khác.

Cỗ máy in tiền

Mọi kiểu can thiệp thô bạo vào thị trường, xét tới cùng, đều bắt nguồn từ chỗ người ta tin đồng tiền giấy có quyền năng ghê gớm hơn thực tế của nó. Mỗi lần kinh tế khủng hoảng hay ngân sách cần tiền tài trợ cho những lời hứa hào phóng, chính phủ luôn có sẵn một chiêu quen thuộc là bơm thêm tiền vào lưu thông, khởi động máy in để bù thâm hụt, đài thọ công trình công cộng, hay cấp tín dụng giá rẻ cho doanh nghiệp đang thoi thóp.

In tiền tạo ra một bầu không khí náo nhiệt giả, giống hệt việc tiêm một mũi kích thích vào cơ thể đang mệt. Tiền mặt chảy tràn ra khắp nơi khiến ai cũng có cảm giác mình đang giàu lên nhanh, chứng khoán thăng hoa, giá nhà đất nhảy múa, báo cáo doanh thu doanh nghiệp trông cực kỳ sáng sủa. Của cải thật là ổ bánh mì, chiếc áo, ngôi nhà, những dịch vụ làm ra bằng sức lao động thật. Tiền giấy tự nó chỉ là một tấm phiếu ghi nhận, in thêm bao nhiêu cũng không làm ruộng đồng có thêm lúa hay hầm mỏ có thêm quặng sắt, nó chỉ pha loãng giá trị những đồng tiền đang nằm sẵn trong túi người dân.

Lượng tiền tăng mà lượng hàng hóa đứng yên thì lạm phát là kết cục không tránh khỏi, giá cả leo thang, phải mang cả rổ tiền mới mua được thứ trước kia chỉ cần một nhúm nhỏ. Người lao động mừng vì được tăng lương mười phần trăm, tới lúc đi chợ mới phát hiện giá gạo giá thịt đã tăng hai mươi phần trăm, sức mua thật của họ bị bào mòn, phải làm cật lực hơn chỉ để giữ nguyên mức sống cũ.

Lạm phát là một dạng thuế ẩn và khá thâm, nó móc túi dân mỗi ngày một chút mà không cần quốc hội biểu quyết hay ký ban hành luật gì cả. Nó âm thầm ăn mòn tiền tiết kiệm cả đời của người già, làm lương hưu ngày càng rẻ mạt. Lạm phát cũng chẳng phân bổ đều cho ai, những ai tiếp cận được nguồn tiền mới in trước tiên, ngân hàng lớn, nhà thầu của chính phủ, hưởng lợi khổng lồ vì mua được hàng ở giá cũ, tới lúc dòng tiền ngấm xuống tầng lớp thu nhập thấp thì giá đã bị đẩy lên tận mây. Lạm phát nói cho cùng là một cuộc phân phối lại tài sản khá bất công, lấy từ túi người nghèo đắp vào túi người giàu, và nó là cách để giới cầm quyền né đối diện thẳng với những yếu kém cơ cấu, đổi lấy vài năm ảo giác thịnh vượng rồi đẩy hết gánh nặng sụp đổ cho thế hệ sau gánh.

Lịch sử có đầy ví dụ cho thấy in tiền quá tay đi xa tới đâu. Đức thời Cộng hòa Weimar đầu những năm hai mươi của thế kỷ trước, giá cả có lúc tăng gấp đôi chỉ sau vài ngày, người ta kể lại chuyện đẩy xe cút kít chở đầy tiền giấy chỉ để mua một ổ bánh mì. Zimbabwe cuối những năm hai ngàn cũng đi vào lịch sử với tờ tiền một trăm ngàn tỷ đô la Zimbabwe, in ra chỉ đủ mua vài quả trứng ngoài chợ. Hai ví dụ này nghe cực đoan nhưng cơ chế thì giống hệt chuyện năm chục đô của ông thợ bánh, chỉ khác quy mô. Chính phủ càng tuyệt vọng, máy in càng chạy nhanh, và người trả giá cuối cùng luôn là người ít có công cụ nào để tự bảo vệ mình nhất.

Khi lạm phát hoành hành, thiên hạ có xu hướng ghét bỏ việc để dành. Giữ tiền mặt trong tủ nghe có vẻ dại vì tiền càng ngày càng mất giá, đâu đâu cũng nghe kêu gọi phải tiêu, phải xài để kích cầu. Cái tư tưởng này gốc gác từ Keynes, ông cho rằng nếu ai đó kiếm được tiền mà không xài hết, đem cất, thì người đó đang rút bớt dưỡng khí của nền kinh tế. Trừ phi đem tiền chôn dưới gầm giường kiểu người tiền sử, còn không thì tiền tiết kiệm gửi ngân hàng lập tức biến thành vốn cho vay, ngân hàng lấy vốn đó cho doanh nghiệp vay mở xưởng, mua máy, nghiên cứu công nghệ mới. Tiêu xài chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt, còn tiết kiệm và đầu tư mới là thứ nâng năng lực sản xuất của cả xã hội về dài hạn. Nếu ai cũng xài sạch những gì làm ra thì lấy đâu vốn xây công trình lớn hay chế ra máy móc phức tạp. Chê bai tiết kiệm, cổ súy tiêu xài vô độ chẳng khác gì ăn lạm vào hạt giống của mùa sau để no bụng ngày hôm nay.

Cuốn sách này tới giờ bán được hơn một triệu bản, chưa từng ngừng in suốt gần tám mươi năm, thứ hiếm có với một cuốn kinh tế học viết cho người thường chứ không viết cho hội đồng chấm luận án. Có sinh viên kinh tế được thầy cô khuyên đọc trước khi vào học chính khóa, có doanh nhân đọc như một cuốn cẩm nang tư duy, có chính trị gia trích dẫn nó dù đường lối chính sách của họ nhiều khi đi ngược hẳn lại những gì sách viết. Cái nghịch lý đó tôi nghĩ cũng chính là minh chứng rõ nhất cho luận điểm trung tâm của sách, biết một bài học không có nghĩa là làm theo nó, nhất là khi lợi ích chính trị trước mắt luôn hấp dẫn hơn cái giá phải trả về dài hạn.

Đọc Hazlitt tôi nể ổng ở chỗ phơi bày được hết mấy lớp ngôn từ hoa mỹ của giới chuyên gia, kéo kinh tế học từ bục giảng xuống ngay cái chợ chồm hổm để ai cũng nhìn ra bản chất của việc mua bán đổi chác. Nhưng có vài chỗ tôi vẫn thấy lấn cấn với quan điểm tự do thị trường hơi tuyệt đối của ổng. Ổng nói rất đúng về cơ chế vận hành của dòng tiền, đúng khi chỉ ra bảo hộ ngành làm ăn dở hay cản máy móc là tự sát về lâu dài. Nhưng chỗ ổng lướt hơi nhẹ là nỗi đau của người bị đào thải trong ngắn hạn.

Quay lại chuyện cái máy dệt cướp việc thợ dệt. Đúng là cả xã hội giàu lên, đúng là việc mới sẽ mọc ở ngành khác. Nhưng ông thợ dệt năm mươi tuổi vừa bị cho nghỉ hôm nay liệu có đủ sức và đủ thời gian học lại nghề sửa máy hay chuyển qua phục vụ nhà hàng. Phần đông là không. Cái dịch chuyển cơ cấu kinh tế đó không trơn tru như đường cong cung cầu vẽ trên giấy, nó là một quá trình có máu và nước mắt của những con người cụ thể, những người bị gạt ra lề trong cuộc chạy đua công nghệ cần một mạng an sinh đủ tốt để đỡ họ qua giai đoạn chuyển tiếp. Thị trường tự do chữa lành mọi vết thương về dài hạn thật, nhưng như chính Keynes từng nói móc, về dài hạn thì ai rồi cũng chết cả. Bắt một người hy sinh miếng cơm của gia đình mình hôm nay để phục vụ cho sự thịnh vượng chung hai chục năm sau là một đòi hỏi khá tàn nhẫn, dù về mặt số học nó đúng.

Dù vậy, Economics in One Lesson vẫn là một liều thuốc khá mạnh cho những ảo tưởng kinh tế cứ len lỏi vào đầu người ta mỗi ngày. Nó buộc phải luôn hỏi cái gì đang bị che khuất phía sau những con số hào nhoáng. Dự án ngàn tỷ được duyệt, phải hỏi bao nhiêu cơ hội khác đã bị bóp nghẹt để dồn tiền cho nó. Gói cứu trợ được tung ra, phải nhìn cho ra ai đang âm thầm bị móc túi để tài trợ cho sự hào phóng đó. Luật can thiệp giá cả được ban hành, phải thấy trước nguồn cung nào sắp bị bóp chết và người nghèo nào sắp bị đẩy văng khỏi thị trường.

Ông thợ bánh năm đó vẫn đứng trước cửa tiệm, nhìn thợ kính lắp tấm kính mới, cười gượng vì nghĩ mình vừa làm được một việc tốt cho cả xóm. Ông thợ may cách đó vài căn nhà đang ngồi không, cây kim và cuộn chỉ để yên trên bàn, chẳng ai bước vào hỏi may đồ nữa. Cái ông thợ may không biết, là mình vừa mất một mối khách mà chẳng ai buồn báo cho biết.